Thứ Hai, 4 tháng 12, 2017

Phật và ma quỷ

Có một họa sĩ rất nổi tiếng, ông ta muốn vẽ tranh Phật và ma quỷ, nhưng mà ông ta không tìm thấy trong thực tế hình mẫu của hai nhân vật này. Trong đầu ông ta nghĩ thế nào cũng không thể tưởng tượng ra hình dạng của Phật và ma quỷ, cho nên rất sốt ruột lo lắng.


Thế rồi có một cơ hội rất vô tình, anh ta đã đi chùa bái lễ, trong lúc đó đã vô tình phát hiện ra một vị hòa thượng, các loại khí chất trên thân thể vị hòa thượng kia đã hấp dẫn vị họa sĩ một cách sâu sắc, thế là anh ta liền đi tìm vị hòa thượng đó, nguyện ý trả cho vị hòa thượng này một số tiền lớn, với điều kiện là vị hòa thượng sẽ dành một ngày làm mẫu để họa sĩ kia vẽ. Sau này, tác phẩm của vị họa sĩ hoàn thành đã gây ra chấn động rất lớn tại địa phương. Họa sĩ nói: “Đó là bức tranh mà tôi hài lòng nhất, bởi vì vị hòa thượng làm mẫu cho tôi vẽ kia khiến tôi nghĩ rằng nhất định ông chính là một vị phật, những khí chất thanh tịnh và thư thái ông mang trên mình có thể gây cảm động đến mỗi người”.


Vị họa sĩ cuối cùng đã thực hiện lời hứa của mình, trả cho vị hòa thượng kia rất nhiều tiền. Cũng bởi vì bức tranh này, mọi người đã không gọi ông ta là họa sĩ nữa mà gọi là “Họa Thánh”. Một thời gian ngắn sau, họa sĩ chuẩn bị bắt tay vào vẽ ma quỷ, nhưng điều này lại trở thành một vấn đề khó khăn cho ông, đi đâu mà tìm được hình dáng của ma quỷ đây? Ông ta tìm hỏi qua rất nhiều địa phương, tìm rất nhiều người hung ác bên ngoài, nhưng không có ai thỏa mãn cả. Cuối cùng, ông ta tìm đến một nhà tù, vị họa sĩ cực kỳ vui mừng, bởi vì thực sự tìm một người giống ma quỷ quả là quá khó khăn. Thời điểm mà ông họa sĩ đối mặt với tên phạm nhân kia, tên phạm nhân đã ở ngay trước mặt ông ta mà khóc rống lên. Vị họa sĩ thấy vô cùng kỳ lạ, bèn hỏi tên phạm nhân kia có chuyện quan trọng gì vậy? Tên phạm nhân kia nói: “Tại sao ông lần trước vẽ Phật cũng tìm tôi mà lần này vẽ ma quỷ cũng lại tìm tôi?”.


Vị họa sĩ bị chấn động, ông nhìn tên phạm nhân một cách cẩn thận rồi nói: “Tại sao lại có thể thế được? Lúc tôi vẽ Phật tôi tìm người kia có khí chất phi phàm, còn ngươi thoạt nhìn đã thấy ngay là hình tượng ma quỷ rồi, tại sao lại là cùng một người được? Thật là quá kỳ lạ! Quả thực là khiến cho không ai có thể lý giải nổi”.


Tên phạm nhân kia đau buồn nói: “Chính là ông đã biến tôi từ Phật thành ma quỷ”. Vị họa sĩ nói: “Ngươi tại sao lại nói như thế? Ta không có làm gì ngươi cả”.


21125541920_5878c3066d_o


Tên phạm nhân nói: “Từ sau khi ông trả cho tôi tiền, tôi đã ăn tiêu đàng điếm, đi tìm mua vui, mặc sức tiêu xài. Sau này khi đã tiêu hết tiền, mà tôi lại quen với cuộc sống như vậy rồi, dục vọng đã khởi lên mà không thể vãn hồi được, thế là tôi đi cướp đoạt tiền của người khác, còn cả giết người nữa, chỉ cần có thể kiếm được tiền, việc xấu thế nào tôi cũng có thể làm, kết quả là trở thành như bộ dạng của ngày hôm nay”.


Vị họa sĩ nghe tên phạm nhân kia nói xong, vô cùng bùi ngùi, ông cảm thấy sợ hãi khi mà nhân tính chỉ vì dục vọng lại có thể chuyển biến nhanh đến như vậy, con người là yếu ớt như thế. Thế là ông đau đớn mà đem bút vẽ quẳng đi, từ đó về sau không bao giờ vẽ tranh nữa.


Vị thiền sư kể xong mấy câu chuyện, liền nhắm mắt lại không nói gì, nhưng người hỏi kia đã từ mấy câu chuyện mà có được giải đáp. Hóa ra cái đáng sợ nhất trên đời này chính là dục vọng của con người, dục vọng của con người càng nhiều, thì càng thấy chưa đủ, sẽ càng thấy không sung sướng vui vẻ và sẽ càng thấy phiền não. Cho nên vị thiền sư nói cho chúng ta biết:


Tiền như gông xiềng, tham lam là phần mộ, truy danh trục lợi cuối cùng cũng chỉ là công dã tràng, chỉ có tẩy tịnh đi đủ loại dục vọng trong lòng, buông bỏ lòng tham, quay trở về với bản tính thật thà lương thiện, mới có thể khám phá ra rằng: “mọi vinh hoa phú quý trong thế gian này chỉ như mây khói thoảng qua, suy cho cùng chúng đều là những thứ vô thường”. Có như thế mới có thể tận hưởng được sự khoan khoái vui sướng vô tận của cuộc đời.


Xem thêm bài viết: Phật và ma quỷ tại Khám Phá 365

Sữa chua dê | Sữa chua Ba Vì | Milk100

Lời Phật dạy làm thay đổi cuộc đời

Cùng ngẫm những lời phật dạy sau sẽ làm thay đổi cuộc đời bạn.


1. Yêu quý hết thảy muôn loài


“Hận thù không thể hóa giải bởi hận thù mà bằng tình yêu; đây là chân lý muôn đời.”


2. Con không là những gì con nói mà là những gì con làm.


“Một người không thể gọi là khôn ngoan vì anh ta biết nói hay; nhưng nếu anh ta có bình an, tình yêu thương, và sự dũng cảm thì anh ta mới thật sự được gọi là khôn ngoan.”


“Một con chó tốt không phải bởi vì nó sủa giỏi. Một người tốt không phải bởi vì anh ta nói hay.”


3. Bí quyết để có sức khỏe tốt chính là an trú trong hiện tại


“Bí quyết để có sức khỏe cho cả tinh thần lẫn thể xác không phải là hờn trách quá khứ hay lo sợ về tương lai, mà là sống trong giây phút hiện tại một cách khôn ngoan và nghiêm túc.”


4. Ai biết nhìn vào trong tự thân mình thì người đó tỉnh thức


“Đạo không nằm trên bầu trời. Đạo nằm trong tim.”


5. Lời nói có sức mạnh vừa có thể gây tổn thương, vừa có thể trị lành


“Lời nói có sức mạnh vừa phá hủy, vừa hàn gắn. Khi lời nói vừa chân thành, vừa hòa ái, chúng có thể thay đổi cả thế giới.”


6. Hãy cho đi và con sẽ còn mãi


“Con chỉ mất khi con còn nắm giữ.”


7. Không ai có thể đi giúp ta


“Không ai có thể cứu ta ngoại trừ chính ta. Không ai có thể và không ai sẽ làm thế. Chúng ta phải đi trên con đường của chính mình.”


8. Niềm hạnh phúc không bao giờ cạn kiệt khi ta biết sẻ chia


“Hàng ngàn ngọn nến có thể được thắp sáng bởi một ngọn nến và cuộc đời của ngọn nến ấy không hề bị tàn lụi. Hạnh phúc không bao giờ cạn đi khi ta biết sẻ chia.”


9. Hòa nhã với tất cả


“Hãy kiên trì nhường nhịn người trẻ, từ ái với người già, khuyến khích những ai đang cố gắng, khoan dung độ lượng với những kẻ làm sai và nhu nhược. Có khi trong đời, con sẽ lâm vào những hoàn cảnh ấy.”


“Từ bi với mọi chúng sinh, không phân biệt giàu nghèo; mỗi chúng sinh có những nỗi khổ riêng. Một số chịu khổ quá nhiều, số còn lại chịu khổ quá ít.”


“Hãy chỉ dạy ba sự thật này cho chúng sinh: một trái tim nồng hậu, lời nói hòa ái, một cuộc đời phụng sự và từ bi là những thứ sẽ làm nhân loại đổi mới.’


10. Đừng tin vào mọi thứ con được dạy phải tin


“Đừng dễ dàng tin vào bất kì điều gì bởi vì con đã nghe thấy. Đừng dễ dàng tin vào bất kì điều gì bởi vì nó đã được nhiều người truyền miệng. Đừng dễ dàng tin vào điều gì bởi vì nó được ghi chép trong những cuốn sách giáo điều. Đừng dễ dàng tin tưởng điều gì vì chúng là lời của những bậc tiền bối và của Thầy con.


22-cau-phat-hoc-


Đừng dễ dàng tin vào truyền thống bởi vì nó đã được trao truyền trong rất nhiều thế hệ. Nhưng sau những gì quan sát và phân tích, khi con thấy chúng phù hợp với lí lẽ, đưa đến điều tốt lành, đem lợi ích cho chúng sinh, thì hãy chấp nhận và sống vì nó.”


11. Con nghĩ cái gì, con là cái đó


“Cái chúng ta đang là là kết quả của những gì ta nghĩ. Cái chúng ta nghĩ nằm trong niệm và chính cái ta nghĩ làm nên niệm. Nếu một người nói và hành động bởi một niệm ác thì nỗi khổ bám theo anh ấy như cái bánh xe bị con thú kéo đi. Nếu một người nói và hành động với một niệm lành thì hạnh phúc sẽ đến với anh ấy như bóng với hình, chẳng bao giờ tách rời.”


12. Thả cho nó bay


“Bí quyết của toàn bộ đời sống là không có gì để sợ. Đừng bao giờ lo sợ con sẽ trở thành ai trong tương lai, con không lệ thuộc vào ai cả. Chỉ có khoảnh khắc con rũ bỏ mọi thứ con mới được tự do.”


13. Cây kim trong bọc có ngày lòi ra


“Có ba thứ không thể nào che giấu được, đó là mặt trời, mặt trăng, và sự thật.”


14. Hãy làm chủ suy nghĩ nếu không nó sẽ làm chủ con.


“Để có được một sức khỏe tốt, để có thể đem hạnh phúc cho gia đình nào đó, để đem bình an cho tất cả, thì người đó đầu tiên phải có nghị lực và phải làm chủ được suy nghĩ của mình. Nếu một người có thể làm chủ suy nghĩ, người đó có thể tìm thấy con đường giác ngộ; trí tuệ và đức hạnh sẽ tự nhiên hiển lộ nơi người ấy.”


“Chính suy nghĩ của con người chiêu cảm ra nghiệp xấu, chứ không phải kẻ thù hay oan gia của họ.”


15. Đoàn kết là sống; chia rẽ là chết


“Không gì ghê gớm hơn thói quen hay nghi hoặc. Nghi hoặc chia rẽ con người. Nó là chất độc làm gãy đổ tình bạn và làm tan vỡ những mối quan hệ tốt lành. Nó là cái gai gây phiền toái và gây đau nhức; nó là lưỡi gươm gây chết người.”


16. Không ai xứng đáng nhận được tình thương của con hơn là chính con


“Con hãy tìm trong vũ trụ những ai xứng đáng nhận được tình yêu và lòng thương mến của con hơn là bản thân con? Người đó không thể tìm được ở đâu cả. Con, chính con, cũng như mọi chúng sanh trên thế gian này, xứng đáng với tình yêu và lòng thương mến ấy.”


17. Hiểu được người là khôn ngoan, hiểu được mình là giác ngộ


“Chiến thắng bản thân mình còn hay hơn là đánh thắng một ngàn trận đấu. Chiến thắng ấy là của con; nó không thể bị lấy đi khỏi con bởi thiên thần hay ác quỷ, bởi thiên đàng hay địa ngục.”


18. Đời sống tâm linh không phải là cái gì sang trọng mà là một nhu yếu


“Như cây nến không thể cháy mà không có lửa; người không thể sống nếu không có đời sống tâm linh.”


19. Chuyển hóa nỗi ghen ghét thành sự khâm phục


“Đừng ganh tỵ với những phẩm chất tốt của người, nhưng hãy chấp nhận chúng bằng sự khâm phục của con.”


20. Tìm về suối nguồn bình yên bên trong con


“Bình yên đến từ bên trong. Đừng tìm nó bên ngoài.”


21. Cho đi những gì tích trữ được


“Để sống đúng một cuộc sống vô vị lợi, ta không cần phải xem ta tích trữ được những gì giữa cuộc sống vật chất phồn hoa.”


22. Chọn bạn mà chơi


“Một người bạn gian trá và xấu tính thì đáng sợ hơn cả một con thú hoang; con thú hoang chỉ có thể làm tổn thương thân thể con, nhưng một người bạn như vậy sẽ làm tổn thương cả tâm trí của con.”


23. Không có đường đến hạnh phúc. Hạnh phúc là con đường.


“Không có đường đến hạnh phúc: hạnh phúc là con đường.”


24. Bỏ đi những hư danh giả tạm


“Trên bầu trời thì không thể phân biệt được đâu là hướng Tây, đâu là hướng Đông. Con người tạo ra những sự chia chẻ trong tâm trí của mình và tin rằng những điều ấy là đúng.”


25. Yêu. Sống. Thả cho bay.


“Sau cùng, đây là những vấn đề quan trọng: Con đã yêu chân thành như thế nào? Con đã sống trọn vẹn ra làm sao? Con đã thả cho bay nhiều đến chừng nào?”


Xem thêm bài viết: Lời Phật dạy làm thay đổi cuộc đời tại Khám Phá 365

Sữa chua dê | Sữa chua Ba Vì | Milk100

Bàn về số mệnh của con người

Nhiều người vẫn tin rằng bất kỳ ai cũng được sinh ra với một số mệnh riêng. Số mệnh ấy quy định hoàn cảnh ra đời của mỗi người (Sinh ra trong gia đình giàu sang hay nghèo hèn…). Số mệnh cũng chi phối tố chất của mỗi người (Sinh ra với thân tướng đẹp hay xấu, khỏe mạnh hay đau yếu, thông minh hay ngu đần...).


Số mệnh cũng chi phối mối tương quan với những người khác (Được nhiều người thương yêu giúp đỡ hay bị nhiều người ghét bỏ hãm hại…). Số mệnh cũng chi phối sự thăng trầm trong cuộc đời (Lúc nào thì cuộc sống được an vui, lúc nào thì gặp nhiều tai ương hoạn nạn, lúc nào sự nghiệp thăng hoa, lúc nào thì lụn bại...). Để tìm hiểu về vấn đề này, chúng ta hãy cùng giải quyết các câu hỏi sau: Có hay không có số mệnh? Số mệnh do đâu mà có? Số mệnh là tất định hay bất định? Ta có thể làm gì với số mệnh của chính mình?


20140819095015-quyettamlamgiau


Có hay không có số mệnh?


Trước đây, cuộc sống của con người lệ thuộc rất lớn vào sản xuất nông nghiệp. Năm nào được mùa thì no đủ. Năm nào thất mùa thì đói kém. No đủ thì xã hội an vui, ít trộm cắp. Đói kém thì xã hội bất ổn, nhiều trộm cắp, thậm chí tàn hại lẫn nhau. Cuộc sống của con người an vui no đủ hay không, tùy thuộc vào sản xuất nông nghiệp. Nông nghiệp lệ thuộc vào thời tiết. Theo quan điểm của nhiều người ở thời ấy, thời tiết phụ thuộc vào ý muốn, sự sắp đặt của thượng đế hay ông trời. Như vậy vận mệnh của con người là do ông trời an bài, sắp đặt.


Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã chỉ ra rằng ý muốn hay sự sắp đặt của ông trời, thật ra chỉ là các quy luật tự nhiên. Nếu biết được các quy luật này, chúng ta có thể làm chủ sản lượng nông nghiệp, khống chế dịch bệnh. Do đây cuộc sống con người không còn lệ thuộc nhiều vào thời tiết. Vận mệnh của con người, từ tay ông trời được chuyển giao vào tay con người. Ông trời không còn đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người, nên niềm tin vào số mệnh do trời sắp đặt cũng phai nhạt bớt.


Hiện nay, nhiều người tin rằng số mệnh không sẵn có. Số mạng của ta tùy thuộc vào mức độ trí tuệ, mức độ sáng tạo, mức độ siêng năng, ý chí phấn đấu của ta mà nó trở thành tốt hay xấu. Số mệnh của ta do chính ta tạo ra ngay trong đời này. Quan điểm này được biện minh, khi trên thế giới có những người sinh ra trong điều kiện bình thường, nhưng nhờ có sự siêng năng, sáng tạo v.v… vẫn tạo ra được một sự nghiệp lừng lẫy. Những người siêng năng học hỏi, siêng năng làm việc dễ có một cuộc sống, một sự nghiệp tốt hơn những người ham chơi lười biếng.


Mặc dù thế, quan điểm trên có nhiều khiếm khuyết. Nó không lý giải được sự sai khác về hoàn cảnh, tố chất của mỗi người khi ra đời. Không lý giải được tại sao hai người cùng có hoàn cảnh như nhau, tri thức tương đương, không khác nhau nhiều về khả năng sáng tạo, lại có hai sự nghiệp khác nhau. Có những người dù luôn cố gắng học hỏi làm việc mà đời sống khó khăn vẫn hoàn khó khăn. Có những người sống một cách nhàn hạ, không cố gắng nhiều mà cuộc sống vẫn dễ dàng tốt đẹp. Ngay ở nơi một người, có những lúc dù rất cố gắng siêng năng, sự nghiệp vẫn không thăng tiến, nhưng có những lúc dù không cố gắng nhiều, sự nghiệp vẫn tiến triển vượt bực. Và trong cuộc sống, có những sự kiện may mắn hay xui xẻo khi xuất hiện có thể thay đổi cuộc sống của ta một cách mạnh mẽ. Sự xuất hiện của các sự kiện ấy nhiều khi nằm ngoài mọi tiên liệu của chúng ta, ngoài dự đoán của các ngành khoa học, nhưng nó có thể gây ra hậu quả to lớn vượt xa mọi khả năng phấn đấu của ta.


Rõ ràng cuộc đời và sự nghiệp của ta không chỉ phụ thuộc vào ý chí phấn đấu của ta. Nó còn phụ thuộc vào những yếu tố khác, mà chúng ta gọi là “thời vận”. Thời vận là một biểu hiện của “số mệnh”. Như vậy, dù đang ở trong thời đại khoa học, dù có tinh thần khoa học triệt để, chúng ta vẫn không thể phủ nhận vai trò của “số mệnh” trong cuộc đời của mỗi người.


Nguồn gốc của “số mệnh”


Vì không thể phủ nhận “số mệnh”, nên câu hỏi kế tiếp là “số mệnh” do đâu mà có?


Đây là đề tài được nhiều tôn giáo, nhiều đạo gia, nhiều triết gia quan tâm. Hiện chúng ta có rất nhiều câu trả lời khác nhau, nhưng có thể quy tất cả vào hai quan điểm chính.


1- Số mệnh do một thế lực bên ngoài tạo ra. Như có tôn giáo cho rằng, số mệnh là do trời hay một vị thượng đế sắp đặt.


2- Số mệnh do chính mỗi người tự tạo ra. Quan điểm này lại được phân thành hai:


- Số mệnh do chính mỗi người tự tạo lấy trong đời này.


- Số mệnh do chính mỗi người tự tạo lấy qua nhiều đời trong quá khứ và đang tiếp tục tạo ra trong đời này. Có thể xem đây là quan điểm của nhà Phật. Thật ra, nhà Phật không gọi là số mệnh mà gọi là nhân quả nghiệp báo. Vì cuộc đời là một chuỗi nhân quả nghiệp báo tương tục không gián đoạn.


“Số mệnh” của mỗi người mang tính tất định hay bất định?


Chúng ta có thể xem số mệnh là một chuỗi thăng trầm đổi thay trong cuộc đời của một người. Nếu chuỗi đổi thay ấy được xác định một cách rõ ràng theo thời gian, chúng ta có thuyết định mệnh. Trong trường hợp này, số mệnh mang tính tất định.


Thông thường quan điểm cho rằng số mệnh do trời sắp đặt, dễ được diễn dịch thành thuyết định mệnh. Thuyết này có một nhược điểm: Nếu số mệnh là định mệnh, không thể thay đổi thì mọi tạo tác của ta trong đời này trở thành vô nghĩa. Thật ra, đối với một số tôn giáo lớn, dù vẫn cho số mệnh do trời hay thượng đế sắp đặt, nhưng nếu chúng ta sống thuận ý trời, đẹp ý Chúa thì vẫn được những tưởng thưởng xứng đáng. Nói vậy là đã thừa nhận số mệnh có phần bất định.


Với quan điểm cho rằng, số mệnh do chính chúng ta tự tạo ngay trong đời này, vậy khi chưa có ý thức tạo lập cuộc đời, số mệnh hoàn toàn bất định. Nhiều triết gia phương Tây, dù không đề cập đến số mệnh, nhưng vô tình họ đã ủng hộ quan điểm này, khi cho rằng con người chỉ sinh ra một lần trong đời, không có quá khứ, không bị ràng buộc bởi quá khứ. “Thượng đế đã chết rồi” nên không còn ai sắp đặt cho ta một số mệnh. Yếu tính của con người là tự do. “Người nào tự mình tự do lựa chọn, tự mình tạo nên mình, tự mình là thành quả của mình, kẻ ấy mới đích thực hiện hữu”. Việc cho rằng, chúng ta sinh ra với một số mệnh như tờ giấy trắng, hoàn toàn bất định, số mệnh trở thành thế này hay thế kia tùy theo sự tạo tác của ta, sẽ vấp phải các nhược điểm như đã nói ở phần I.


Với quan điểm cho rằng, số mệnh do chính ta tạo ra trong quá khứ và đang tiếp tục tạo ra trong hiện tại thì số mệnh này không hẳn là tất định cũng không hẳn là bất định. Quan điểm này của nhà Phật không vấp phải các nhược điểm trên và cho ra một lý giải hoàn toàn phù hợp với thực tế. Quan điểm này được trình bày đầy đủ qua lý Nhân quả Nghiệp báo.


Theo lý Nhân quả, bất kỳ một sự kiện nào xuất hiện trong đời đều có nguyên nhân của nó. Các nguyên nhân này do mỗi người tự tạo lấy, thông qua ba nghiệp thân, khẩu, ý nên gọi là "nghiệp nhân". Trong ba nghiệp, ý đóng vai trò chủ đạo.


Những nghiệp nhân thời quá khứ khi đủ duyên cho ra quả thời hiện tại.


Những nghiệp nhân thời quá khứ và đang được tạo ra ở thời hiện tại, khi đủ duyên sẽ cho ra quả ở thời vị lai.


Quả là những sự kiện xuất hiện trong đời sống của ta.


Những nghiệp nhân thời quá khứ và hiện tại liên tục cho ra quả thời hiện tại và vị lai. Những quả ấy nối tiếp nhau tạo thành dòng sống của mỗi người. Do không thể truy tìm dược chỗ khởi đầu của dòng sống, nên nói rằng dòng sống đã xuất hiện từ vô thủy. Đời người chỉ là một đoạn ngắn trên dòng sống dài như vô tận ấy. Như vậy, chúng ta, ai cũng trải qua vô lượng đời kiếp, trôi lăn trong sanh tử luân hồi cho đến ngày hôm nay. Đời sống hiện tại, là cái quả nối tiếp của những đời quá khứ và là nhân của các đời vị lai.


Các nghiệp nhân được phân thành hai loại, thiện và ác. Nghiệp nhân thiện cho ra quả tốt. Nghiệp nhân ác cho ra quả xấu. Nếu quá khứ tạo được nhiều nghiệp nhân thiện thì hiện đời sẽ có nhiều sự kiện tốt xuất hiện trong đời sống của ta. Ngược lại, sẽ có nhiều sự kiện xấu xuất hiện trong đời. Trong quá khứ, chúng ta đã tạo nhiều nghiệp nhân, thiện ác lẫn lộn, nên hiện đời cuộc sống có lúc tốt, lúc xấu, lúc thăng, lúc trầm… Chính điều này đã làm nên ý nghĩa của số mệnh.


Như vậy số mệnh không do một vị thượng đế hay một ông trời sắp đặt mà do chính mỗi người tự tạo lấy trong quá khứ và đang được tiếp tục tạo ra trong hiện tại.


Do cuộc sống ở hiện đời là cái quả của những gì chúng ta đã gây tạo từ những đời trước, nên khi sinh ra chúng ta phải thừa hưởng những nghiệp nhân mà chính mình đã tạo ra trong quá khứ. Như vậy chúng ta không sinh ra với một số mệnh hoàn toàn bất định, mà vẫn có một “số mệnh” chi phối đời sống của chúng ta. Chính “số mệnh” này đã quy định hoàn cảnh, tố chất của mỗi ngươi khi được sinh ra. Do mỗi người đều tạo ra những nghiệp nhân riêng, nên hoàn cảnh của mỗi người khi ra đời cũng riêng khác.


Dù “số mệnh” đã có khi ra đời, nhưng “số mệnh” đó lại do ta tạo ra dưới sự chi phối của lý Nhân quả, nên nó không phải là định mệnh không thể thay đổi. Nếu “số mệnh” là định mệnh thì mọi hành vi tư tưởng của ta trong đời này hoàn toàn vô nghĩa. Sống đạo đức hay phi đạo đức, sống vị kỷ hay vị tha, sống lười biếng hay siêng năng v.v… đều như nhau. Điều này không phù hợp với thực tế. Cho nên, “số mệnh” vẫn có phần bất định.


Ta có thể làm gì với “số mệnh” của chính mình?


Do “số mệnh” có phần bất định, nên chúng ta có thể chỉnh sửa thay đổi “số mệnh” của chính mình. Vì “số mệnh” chịu sự chi phối của lý Nhân quả, nên muốn thay đổi “số mệnh”, chúng ta phải biết cách vận dụng lý Nhân quả.


Như đã nói, chúng ta tạo ra các nghiệp nhân thông qua thân, khẩu và ý. Vì thế chúng ta cũng phải nương nơi thân, khẩu, ý của chính mình mà sửa đổi “số mệnh” của mình. Muốn “số mệnh” tốt đẹp hơn, chúng ta cần làm các việc thiện, hạn chế các việc ác. Do từ nhân tới quả phải mất một khoảng thời gian, nên những việc làm tốt có thể chưa cho quả tốt liền. Lại nữa, nếu những nhân ác ở quá khứ còn nhiều và mạnh, nó sẽ ngăn trở các nghiệp nhân tốt vừa tạo ra cho quả sớm. Hiểu như vậy, chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy mình đã làm nhiều việc tốt mà hoàn cảnh vẫn chưa thay đổi. Ở đây đòi hỏi chúng ta phải có niềm tin vào lý Nhân quả, kiên trì thực hành, kết quả sẽ đến.


Cách làm trên, là hướng ra ngoài làm các việc thiện thông qua thân và khẩu. Do ý đóng vai trò chủ đạo, nên muốn sửa đổi “số mệnh” một cách tích cực, chúng ta phải hướng vào trong sửa đổi tâm ý của chính mình. Ngoài làm các việc thiện, trong sửa đổi tâm ý sao cho phù hợp với đạo lý, chúng ta sẽ thay đổi được “số mệnh” của chính mình và thành quả sẽ đến ngay trong hiện đời.


Một câu chuyện thời quá khứ


Liễu phàm tiên sinh, tác giả cuốn Liễu phàm tứ huấn, khi còn nhỏ đã mất cha. Thay vì như số đông, đi học để ra làm quan, ông nghe lời mẹ theo nghề thuốc.


Một hôm, tiên sinh lên chùa Từ Vân chơi, gặp một cụ già, râu dài, tướng mạo như tiên. Tiên sinh ngưỡng mộ, tới chào hỏi. Cụ già hỏi:


- Người có mạng làm quan, năm tới sẽ đậu tú tài. Sao giờ còn lang thang ở đây, không lo học?


Tiên sinh trình bày nguyên do. Rồi hỏi thăm tên họ, quê quán cụ già. Được biết, cụ họ Khổng, người Vân Nam, là người được chân truyền cuốn Hoàng cực kinh thế thư của Thiệu Khang Thiết. Sách này căn cứ Kinh dịch và số học để bói về thời thế đất nước và vận mệnh con người. Nghe vậy, tiên sinh mời cụ về nhà gặp mẹ và nhờ xem số cho mình.


Cụ bói cho tiên sinh không việc nào không đúng, từ việc nhỏ đến việc lớn. Năm nào thi đậu cấp gì, thứ hạng bao nhiêu, năm nào làm quan, bao lâu v.v… cụ đều nói rất chính xác. Tiên sinh ghi chép đầy đủ những gì cụ Khổng đã bói cho: Tuy có làm quan nhưng không đậu được tới cử nhân. Năm 53 tuổi ngày 18 tháng 3 giờ Sửu mất tại nhà. Không có con nối dõi…


Do thấy đời mình diễn ra đúng y những gì mà cụ Khổng đã bói, ngay cả những việc lúc đầu tưởng chừng sai, rốt cuộc cũng không thể sai, nên tiên sinh tin chắc rằng, con người đã có một số mệnh an bài. Việc thăng quan tiến chức, giàu sang hay phú quý đều có thời có lúc của nó, đã được trời ấn định.


Năm 35 tuổi, Tiên sinh có duyên gặp Thiền sư Vân Cốc Pháp Hội trên núi Thê Hà. Ngồi thiền với Thiền sư suốt ba ngày. Sau buổi tọa thiền, Sư hỏi:


- Sở dĩ con người không thể trở thành thánh nhân, vì bị những vọng niệm lăng xăng quấy rối. Ngươi ngồi ba ngày mà không thấy khởi lên môt niệm nào, làm sao được vậy?


Tiên sinh trả lời:


- Sau khi cụ Khổng lấy số mạng cho con, con thấy cuộc đời sống chết vinh nhục đều do trời sắp đặt. Dù muốn dù không cũng chẳng thay đổi được gì. Suy nghĩ thêm cũng vậy thôi, nên không còn suy nghĩ.


Thiền sư Vân Cốc bật cười nói:


- Ta tưởng ngươi là kẻ xuất chúng, nào ngờ chỉ là kẻ phàm phu.


Tiên sinh không hiểu, hỏi lại.


Sư đáp:


- Tâm người nếu còn lăng xăng thì còn bị âm dương khí số trói buộc, làm sao bảo là không có số mệnh? Nhưng số mệnh chỉ chi phối người thường, là người sống suốt đời chìu theo tánh mình, không biết thay đổi. Còn đối với người có sự chuyển biến mạnh mẽ, số mệnh không thể chi phối. 20 năm nay, Khổng tiên sinh chỉ cho ngươi thấy số mệnh mà ngươi không thể thay đổi số mệnh chút nào. Vậy không phải phàm phu là gì?


Liễu Phàm thắc mắc:


- Không lẽ người ta có thể thoát khỏi sự chi phối của số mệnh hay sao?


Thiền sư Vân Cốc đáp:


- Mạng do ta tạo, phước do mình tìm. Kinh thư, Kinh thi đã dạy rõ ràng như vậy. Kinh Phật cũng dạy: “Mong cầu giàu sang sẽ giàu sang. Mong cầu sinh trai gái sẽ sinh trai gái. Mong cầu sống lâu sẽ sống lâu”.


Tiên sinh không đồng ý:


- Mạnh Tử nói: “Không tìm thì thôi, tìm sẽ được. Tìm như vậy có lợi ích vì tìm được. Đó là tìm bên trong. Còn tìm không đúng cách thì kết quả phụ thuộc vào số mệnh, tìm như thế vô ích. Vì đó là tìm bên ngoài ta”. Như nhân nghĩa đạo đức, đó là những gì ở trong ta, ta có thể đạt được bằng sức mình. Còn tìm công danh phú quý là cái ở bên ngoài ta, tìm như vậy làm sao tìm được.


Sư trả lời:


- Mạnh Tử nói rất đúng. Chỉ vì ngươi hiểu chưa đúng. Ngươi không nghe Lục tổ nói: “Tâm ta như miếng ruộng, phước họa do mình trồng”, phải ở trong lòng mà gieo thì không gì là không được. Tìm do ta, không riêng nhân nghĩa đạo đức mà công danh phú quí cũng sẽ được hết. Trong và ngoài đều được, tìm như vậy, mới có lợi ích vì tìm được. Ngược lại, nếu không xem xét trong lòng, chỉ một mực hướng ra ngoài tìm cầu, xem thì thấy có vẻ đúng cách nhưng được hay không thì tùy số mệnh. Cuối cùng trong ngoài đều mất, nên Mạnh Tử nói vô ích là vậy.


Thiền sư Vân Cốc hỏi tiếp:


- Ngươi tự xét lại xem, ngươi có xứng đáng đậu tiến sĩ hay không? Có xứng đáng có con nối dõi hay không?


Tiên sinh kiểm điểm khá lâu, rồi đáp.


- Dạ con không xứng. Vì những người thi đậu làm quan là người có phước, con không phước. Con không lo xây dựng đức hạnh để tiếp nhận phước lớn. Tánh con thường bực bội bồn chồn, chịu không nổi những phiền toái vụn vặt xảy ra trong đời sống. Lòng hẹp hòi không thể bao dung, thường lấy tài mình chèn ép người. Lại hay thích sao làm vậy, không suy nghĩ cặn kẽ. Lời nói không thận trọng, thường nói bậy. Những điều như thế là tánh vô phước, làm sao xứng đáng với con đường khoa cử. Con cũng không đáng có con, vì chỗ nào càng dơ thì càng nhiều sinh vật, nước trong ít tôm cá. Con có tật thích sống sạch cho riêng mình. Đó là nguyên nhân thứ nhất không con. Bầu không khí hòa thuận sẽ làm cho mọi loài sinh sôi, mà tánh con hay nóng giận bực bội, đó là nguyên nhân thứ hai không con. Yêu thương là nền tảng của sự sinh sôi, còn khắt khe ích kỷ là nguồn gốc của sự không sinh dục. Con chỉ biết yêu quý danh vọng tiết tháo của mình, thường không thể hy sinh giúp đỡ người khác… ngoài ra còn nhiều lỗi lầm không sao nói hết.


Thiền sư Vân Cốc nghe xong, nói:


- Đâu phải chỉ có vấn đề thi cử mới như vậy. Những cái khác cũng vậy. Người thấy lý lẽ, biết đó là phước báu của mình. Người không biết, sẽ giải thích bằng định mệnh trời kêu ai nấy dạ. Thật ra trời chỉ xử lý trên những gì con người có. Có bao giờ thêm bớt chút nào theo ý riêng của mình đâu.


Thiền sư nói tiếp:


- Nay ngươi đã biết được nguyên nhân không đậu tiến sĩ, không có con, thì cứ nhắm vào nguyên nhân đó mà sửa chữa. Phải tích bồi công đức. Phải bao dung lỗi lầm của người khác. Phải hòa thuận yêu thương mọi người. Phải giữ gìn sức khỏe. Khổng tiên sinh đoán ngươi không đậu Tiến sĩ, không có con. Đó là số trời đã định. Nhưng ta vẫn có thể không tuân theo. Từ nay về sau, ngươi phải trau dồi tánh hạnh đạo đức cho nhiều. Hết lòng làm thiện. Tích bồi âm đức. Phước này do mình tạo, không thể không hưởng.


Tiên sinh theo đó mà thực hành.


Đúng như lời của Thiền sư Vân Cốc nói. Cuộc đời của ông không còn diễn biến theo số mệnh mà Khổng tiên sinh đã bói cho. Thay vì sống 53 tuổi, ông sống tới 74 tuổi. Thay vì không đậu cử nhân, ông đậu tới tiến sĩ. Thay vì không có con, ông có một người con trai, sau này cũng đậu tiến sĩ. Vì thế ông đã viết ra cuốn Liễu phàm tứ huấn để dạy con. Trong đó có nói: “Ai cho họa phúc do mình tạo, là lời thánh hiền. Còn cho trời định, là lập luận của hạng phàm tục”.


Như vậy dù sinh ra với một số mệnh, nhưng nếu biết vận dụng lý Nhân quả nghiệp báo một cách đúng đắn, ngoài làm thiện, trong sửa ý, chúng ta vẫn sửa đổi được số mệnh của chính mình.


Xem thêm bài viết: Bàn về số mệnh của con người tại Khám Phá 365

Sữa chua dê | Sữa chua Ba Vì | Milk100

Cách xua đuổi tà khí khi về nhà mới

Với ngôi nhà mới hay nhà để trống đã lâu, trước khi thuê hay mua và sử dụng, việc xua đi tà khí, tận dụng trọn vẹn khí tốt cho gia chủ là điều vô cùng quan trọng.


Nhà đã lâu không có người ở, nhà mới thường mang lại cảm giác lạnh lẽo, âm u cho người ghé thăm, người ở cho dù đó là nhà mặt phố, căn hộ chung cư hay cả biệt thự rộng rãi với khuôn viên cây cảnh xung quanh. Do vậy, trước khi dọn đến nhà mới, người sử dụng cần phải biết cách cải tạo căn nhà để luồng khí âm u ấy không ảnh hưởng đến mình và gia đình.


Một số lưu ý người ở mới cần làm để xua đi tà khí, khí xấu:


Đốt nến


dot-nenTrước hết, bạn cần đốt một cây nến, đặt ở góc Đông Nam trong nhà và theo dõi ánh lửa. Đương nhiên, khi ấy, người dùng phải khép kín cửa, tránh gió lùa để dễ dàng theo dõi hướng cháy cửa lửa. Nếu nhà để quá lâu, độ ẩm cao và nhiều nấm mốc, khí xấu, độc hại thì ánh lửa sẽ lập lòe chứ không cháy đứng ngọn. Đốt nến sẽ giúp xác định tình trạng của ngôi nhà cũng như kiểm soát được khí lưu trong nhà.


Xông nhà


Chú ý xông kỹ những góc tường hứng nước mưa nhiều, ẩm mốc cao. Khi xông, hãy bật hết đèn lên, vừa để thấy rõ hiện trạng hư hại (nếu có) vừa tăng nhiệt khí, dương khí. Nếu nhà chưa có điện, hay bị cắt điện đã lâu, hãy nhóm bếp than rồi đem một chậu cây xanh đặt vào hướng Nam hay hướng Đông trong nhà để tăng cường dương khí.


Xông nhà sẽ giúp xua đi chướng khí tích tụ lâu ngày trong nhà và đuổi các loại côn trùng có hại. Thuốc xông là hỗn hợp các loại rễ cây, hương liệu, bột trầm hương và nhang thơm. Sau khi mua về, bạn đốt vào cái siêu hoặc nồi đất để khói bay ra khắp nhà. Xông theo nguyên tắc từ trên xuống dưới và từ trong ra ngoài.


Treo chuông gió


Khi dương khí đã vượng, hãy treo phong linh (chuông gió) ở một số nơi. Phong linh là công cụ dẫn dắt khí luân chuyển trong nhà, thường được treo ở các cửa ra vào hoặc cửa sổ. Bạn hãy chọn chuông gió bằng kim loại, phát ra âm thanh lớn, ứng với cung Thương của ngũ âm cổ. Theo phong thủy, loại chuông gió này thuộc hành Kim, mang ý nghĩa tiền tài theo gió vào nhà.


chuong-gioCung Thương trong âm nhạc cổ xưa ứng với nốt sol trong âm nhạc thất âm Tây phương hiện đại. Khi nghe âm điệu này, tâm trạng con người sẽ vui tươi, hưng phấn và hướng thiện.


Đồng thời người xưa cũng quan niệm rằng, âm thanh của kim khí có khả năng xua tà ma dịch bệnh, mang lại may mắn, báo hiệu đã có người cư ngụ, dương khí đã đến vùng đất này, “người âm” hãy tránh xa.


Tuy nhiên, gia chủ cần lưu ý, phong linh là con dao hai lưỡi. Nếu khí xung quanh hay bản thân căn nhà là khí xấu, phong linh sẽ làm chúng phát tán khắp nơi, ảnh hưởng không tốt đến gia chủ. Vì vậy, người dùng nên tính toán cẩn thận để có được kết quả tốt nhất.


Trấn nhà


Trước đây, khi nhà còn xây trên nền đất, lúc dọn vào nhà mới người ta thường lấy các mẩu vàng găm (đá khoa học phong thủy) nhỏ, hoặc 8 đồng xu chôn ở 4 góc nhà, với ngụ ý tiền tài vào tứ phương, đồng thời xua đi tà khí trấn nhà để được cát tường. Ngày nay, việc đó được gia chủ làm trước lúc lát gạch cho sàn nhà.


Nếu có điều kiện, hãy thay vàng găm bằng thạch anh trắng, cũng có ý nghĩa như vậy, nhưng công năng của thạch anh cao hơn, vì từ tính của nó thuộc loại mạnh nhất và ổn định nhất. Dùng thạch anh trong nhà sẽ giúp ổn định từ trường, điều tiết chướng khí, mang lại sự ổn định và tài lộc cho gia chủ.


Nếu căn nhà bạn dọn đến không cần phải sửa lại sàn nhà hãy bỏ vàng găm và tiền xu vào một cái lọ nhỏ để trong góc nhà, hay góc cửa cũng mang ý nghĩa tài lộc tương tự. Ngoài ra, cũng có thể để vài mẩu vàng găm vào trong bát nhang địa tài, vì Thổ sinh Kim, sẽ mang lại tài lộc.


4 điều đại kỵ khi chuyển nhà


- Chọn ngày: Nhà quay hướng nào thì thuộc hành đó (hướng nhà là hướng cửa chính quay ra) nên cần tránh những ngày thuộc hành khắc với hành của hướng nhà. Chẳng hạn: nhà hướng Nam thuộc hành Hỏa nên kỵ ngày Thủy vượng. Những ngày hành Thủy là: Thân, Tí, Thìn.


- Tránh ngày xung với bản mệnh: Những ngày mà thiên can hoặc địa chi xung với tuổi của gia chủ thì không nên chuyển nhà. Chẳng hạn, người tuổi Qúy Tỵ thì tránh chuyển nhà ngày Qúy Tỵ, Qúy Hợi, Kỷ Tỵ, Kỷ Howuj, Đinh Tỵ, Đinh Hợi vì đó là 6 ngày trực xung với tuổi. Nói cho rõ hơn thì can Quý thuộc hành Thủy còn can Đinh hành Hỏa khắc nhau, can Kỷ hành Thổ khắc hành Thủy cho nên tránh. Còn tránh ngày Quý Tỵ vì ngày đó có thiên can địa chi trùng với can chi của tuổi.


chuyen-nha- Đại kỵ chuyển nhà vào tháng 3, tháng 7: Tháng 3 có tiết Thanh minh, tháng 7 có tiết Vu lan có liên quan đến người chết. Nếu chuyển nhà vào những thời điểm này dễ làm kinh động đến vong linh nên không tốt.


- Đại kỵ ngày Tam nương, sát chủ: Việc chuyển nhà được xem là có ảnh hưởng lớn đến tâm lý, sức khỏe và tài vận của gia chủ cho nên phải chọn những ngày tốt. Thông thường ngày hoàng đạo, giờ hoàng đạo là tốt. Tuy nhiên phải lưu ý thêm một đặc điểm là loại trừ các ngày hoàng đạo trùng với ngày có sao xấu chiếu.


Nếu ngày hoàng đạo lại trùng với các ngày Tam Nương (gồm: 3, 7, 13, 18, 22, 27) hoặc 5, 14, 23 (Dương công kỵ nhật) hay ngày sát chủ, Thiên tai, Địa họa thì không nên chọn vì những ngày đó kỵ việc xuất hành.


Xem thêm bài viết: Cách xua đuổi tà khí khi về nhà mới tại Khám Phá 365

Sữa chua dê | Sữa chua Ba Vì | Milk100

Lập một lư hương thờ cúng như thế nào ?

Lư Hương là khí cụ dùng để thắp hương xông hương cúng Phật, ngày nay lư hương được sử dụng phổ biến trong tục thờ cúng gia tiên để tạo ra mùi hương trầm thơm, bởi theo quan niệm từ xưa thì hương thơm thể hiện lòng thành, sự thanh khiết cao quý.


Chính vì thế, lư hương với những khói trầm toả ra có tác dụng thanh lọc khí vô cùng hiệu quả, không những hoá giải được hung khí mà còn tăng thêm cát khí, gia tăng sự hoà thuận, hiếu thảo, sự tăng tiến về trí tuệ tài lộc trong gia đình.


Khi lập một lư hương để thờ cúng, thì phải chuẩn bị :


- Một lư hương phù hợp về thẩm mỹ ( có người thích họa tiết trang trí bên ngoài lư hương là màu vàng, người ưa màu xanh, người có điều kiện kinh tế hơn nữa thì bát hương bằng đồng, bằng ngọc …). Phù hợp với không gian nơi thờ cúng ( ban thờ nhỏ thì lư hương không nên to quá, hoặc ban thờ to thì bát hương không nên bé quá) .


- Tro : dùng rơm sạch hoặc trấu ( vỏ lúa) để đốt lấy tro đều được.


- Bài vị + giấy trang kim


- Bát Bảo hoặc Ngọc Bội, Ngọc Trai.


- Tiền xu, vàng lá, tiền giấy thật.


- Hương thơm


Ý nghĩa :


Tro hành thổ có tính thu nhiếp, nuôi dưỡng, sản sinh, biến hóa. Trong ngũ hành, thống lĩnh quần hùng. Câu nói “ Nhất Thủy nhì Hỏa” không phải là không có lý. Nhưng Hỏa còn bị thổ thu nhiếp ( Hỏa sinh Thổ). Thủy còn bị Thổ khống chế ( Thổ khắc Thủy). Bởi vậy Thổ là biểu tượng sức mạnh thu, phát năng lượng .


Tro dùng để lập bát hương phải là từ thành phần nhiên liệu đốt cháy được biến hóa thành, trong dạng thể tơi, xốp, mịn, thơm tho, sạch sẽ. Như vậy, theo đó thì không thể dùng gạo hoặc là cát, để cho vào trong bát hương.


Trong cõi giới tâm linh thì :


- Lư hương : chính là khung của một ngôi nhà


- Tro : là thành phần nguyên vật liệu để dựng nên ngôi nhà hoàn chỉnh


- Bài vị + giấy trang kim : là nơi thờ cúng ở trong ngôi nhà đó


- Bát bảo ( không phải là Thất bảo) là các đồ tự khí trên ban thờ


- Tiền xu, vàng lá, tiền giấy thật: là các đồ lễ phẩm ở trên ban thờ


- Hương thơm để kết nối đường truyền tâm linh


- Đọc Pháp chú : để triệu thỉnh người được thờ phụng về chứng giám và ám nhập ( Linh ứng).


Như vậy ta hiểu rằng lư hương giống như một ngôi nhà dành cho người cõi âm, mà các đồ vật ta đưa vào trong lư hương đó có ý nghĩa như đã nêu ở trên.


Ta cũng hiểu rằng người không có pháp thì không thể tự mình lập lư hương được ( dẫu có thành tâm đến mấy cũng vậy thôi). Một khi đã lập lư hương không có pháp thì chỉ chiêu ma, gọi quỷ, không bao giờ linh ứng, không khi nào gia chung được yên ổn.


Đây có những trường hợp đặc biệt được ngoại trừ, tức là người không có pháp lập lư hương vẫn được linh ứng. Ví dụ : Người được Bồ Tát, Thánh, Thần, Cửu huyền thất tổ, báo mộng, chỉ dẫn cho cách lập bát hương….vv.


Trong lư hương có thể có một hoặc nhiều bài vị, ý nghĩa như trong nhà có nhiều ban thờ.


Bài vị thờ ai trong lư hương thì người đó thường xuyên giáng phó linh sàng. Người chỉ được khấn nôm mời về không có bài vị thì giống như vị khách được mời, đến rồi đi, không ở lại.


Hiểu được nguyên tắc lập lư hương, đối với người làm thầy thì giúp cho chúng sanh bá tánh tạo lập được nhiều công đức ( vì bát hương linh ứng). Người bình thường nhờ am hiểu luật giới cõi âm mà nếu có mời thầy về lập lại lư hương cho gia đình, cũng biết đâu là thầy có năng lực, đâu là thầy bà tào lao vô đức, vô năng.


Phúc Tâm Pháp Sư



Khám phá & Chia sẻ Lập một lư hương thờ cúng như thế nào ? tại Ngôi nhà Tâm Linh

Chủ Nhật, 3 tháng 12, 2017

Có hay không hiện tượng nhập đồng ?

Nhập đồng là một hiện tượng được rất nhiều người tin theo. Người ta quan niệm rằng, các vị Thánh từ các miền khác nhau của vũ trụ bay về nhập hồn vào thân xác các Bà, Ông đồng trong trạng thái tâm linh thăng hoa, ngây ngất nhằm phán truyền, diệt trừ tà ma, chữa bệnh, ban phúc, ban lộc cho các con nhang, đệ tử.


Vậy thực tế của vấn đề nhập đồng này ra sao? 


Từ xưa đến nay, đền và chùa là hai nguồn tâm linh quen thuộc của người dân Việt Nam. Từ thuở lập quốc đến nay, dân tộc Việt vẫn coi mình là con rồng cháu tiên, với người mẹ có công sinh thành là Âu Cơ. Trải qua quá trình bồi đắp về văn hóa, tín ngưỡng, tâm linh, người Việt và một số tộc người khác hình thành nên tục thờ Nữ thần, thờ Mẫu và Tam phủ – Tứ phủ (gọi là Đạo Mẫu).


Nắm rõ điều này, có thể hiểu Mẫu chính là mẹ Âu Cơ, các vị thần thánh chính là những người đã có công với đất nước, sống cuộc đời oai hùng, khí phách, nên chết được làm thần thánh.


Ý nghĩa thờ cúng ban đầu của người dân là đúng, thể hiện lòng yêu nước và nhớ ơn những người có công. Tuy nhiên, qua thời gian, nhiều người hiểu sai, khiến việc thờ cúng này đã ngày càng bị sai lệch và tự diễn hóa theo ý muốn của con người.


Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, nhiều phụ nữ ra trận, trở thành anh hùng như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Thái hậu Dương Vân Nga, nữ tướng Bùi Thị Xuân…


Các vị này được nhân dân tôn làm Thần, Thánh, được triều đình sắc phong “Thượng đẳng thần”, được nhân dân tôn làm Thành hoàng của nhiều làng…


Nhập đồng là một hiện tượng được rất nhiều người tin theo. Người ta cho rằng đó là hiện tượng Thần thánh nhập vào xác người phàm, nhưng thực tế đó là chuyện gì? Xin trở lại với câu chuyện thời Đức Phật còn tại thế.


Khi Đức Phật 80 tuổi, Ngài báo trước với các đệ tử rằng 4 tháng nữa sẽ nhập Niết bàn. Bữa ăn cuối cùng, ngài ăn món nấm và bị nhiễm bệnh, nằm trên giường. Vua trời Đế Thích đã đích thân xuống hầu hạ Phật.


Đức Phật có nói với trời Đế Thích rằng so với người cõi trời thì những người ở cõi trần bốc mùi hôi xa cả vạn dặm. Nhưng vua trời vẫn cung kính đáp lời xin được hầu hạ Đức Phật vào những phút cuối trước khi Người nhập Niết bàn.


Cũng vào thời Đức Phật, có một cô gái vô cùng xinh đẹp được cha mẹ mang đến, mong được gả cho Phật. Đức Phật đã trả lời như sau: “Thân người là ô uế, ta không bao giờ muốn đụng đến… Ngày xưa khi ta ngồi dưới cội bồ đề, con gái của Mara đến quyến rũ ta, mà những người đó thân hình như ngọc, còn không làm ta động tâm huống hồ là những con người thế gian đầy sự ô uế này”.


Cô gái sau khi nghe được đã đem lòng thù hận Phật. Sau này, khi lên làm hoàng hậu, cô lên kế hoạch trả thù, ra lệnh cho người dân mắng chửi, hạ uy tín của Đức Phật…


Thần thánh không nhập vào xác phàm vì thân người là ô uế. Vậy thì ai nhập? Đó chỉ là một vong rất tầm thường hoặc là những phụ thể các loại (cáo, chồn, rắn …) bám lên thân người và tự xưng mình là Thần thánh mà thôi. Và vì những vong hay phụ thể này có thể biết được chuyện này chuyện kia nên con người nhầm tưởng là Thần thánh.


Sau một thời gian, vong hết phước (do hưởng sự cúng tế, lễ lạy của nhiều người) nên bị đọa, không còn ai nhập vào xác người nữa. Tuy nhiên, “nạn nhân” vì không muốn mất quyền lợi nên tiếp tục giả vờ như vẫn còn bị nhập, vẫn nhảy múa, phán đủ mọi chuyện theo ý mình. Còn nếu là phụ thể vẫn bám lên thân người kia thì những lời phán đó chính là do chúng khống chế thân người mà làm nên vậy.


Từ câu chuyện trên có thể thấy không có chuyện Thánh nhập vào xác phàm vì thân người rất ô uế, dù là nam hay nữ. Người ở cõi trên không bao giờ muốn nhập vào người ở cõi thấp hơn mình. Cũng giống như việc con người không muốn nhập vào xác của súc sinh.


Do vậy, hiện tượng nhập đồng không giống như con người nghĩ và thật nguy hại, có thể khiến tất cả những người tin theo đều là nạn nhân.



Khám phá & Chia sẻ Có hay không hiện tượng nhập đồng ? tại Ngôi nhà Tâm Linh

Những lưu ý khấn khi khấn, cúng lễ tại Đền và Điện

Các cụ có câu “ đầu xuôi thì đuôi mới lọt”, vì vậy khấn sao cho khéo cũng là một cách để nhà Ngài vừa lòng thì buổi đi lễ mới chu hoàn viên mãn. Người Việt Nam vốn có truyền thống tôn sư trọng đạo, sống có trước có sau, khi khấn cũng vậy.


Hiện nay có rất nhiều bản văn khấn lưu hành trên phương tiện thông tin đại chúng các bạn có thể tham khảo. Trong phạm vi bài viết này xin đưa ra một vài ý kiến nhỏ để các bạn bổ sung thêm.


Xem thêm:

- Bài văn khấn tứ phủ dành cho các con nhang, đệ tử.

- Bài Văn khấn Tứ Phủ đầy đủ.


1. Đầu tiên ta phải THỈNH các ngài, có thỉnh thì các vị Thánh mới về chứng tâm chứng lễ.


2. Sau khi thỉnh đến phần TẠ: Tạ ở đây là tạ ơn Nhà Ngài đã để tâm xếp nếp cho con cái được bình an, tinh tấn trong tu học và cuộc sống. Tạ chính là sự thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn.


3. Sau phần tạ đến phần SÁM, tại sao phải sám, đó là vì từ vô lượng kiếp trước cho đến nay ta vì vô ý hay hữu ý gây ra nhiều tội lỗi, sát sinh, lừa dối, hại người…nay trước cửa cha mẹ thành tâm sám hối, nếu chúng ta đi lễ mà không dâng cái tâm ăn năn hối cải lên bề trên thì Phật Thánh nào chứng cho ?


4. Phần NGUYỆN: Do nhận thức được lỗi lầm, nay ta đã giác ngộ quyết lìa mê, nguyện một lòng sống tốt đời đẹp đạo, tu nhân tích đức, năng làm việc thiện, giữ thân – tâm- khẩu – ý trong sáng.


Phần nguyện này không chỉ là Nguyện trước phật thánh mà là Nguyện trước bản thân, là mục tiêu mà ta hướng tới.


5. Phần CẦU CHUNG:


Cầu chung ở đây là cầu cho Quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, bách gia trăm họ gia sự cửa nhà được bình yên. Trước khi nghĩ đến cái riêng thì phải lo cho lợi ích chung, nước có giầu mạnh hưng thịnh thì mỗi cá nhân mới có cuộc sống ấm no.


6. Phần CẦU RIÊNG


– Cầu riêng nên cầu cho ai, cầu điều gì? điều trước tiên ta cầu Phật, thánh, chúa, tiên gia ân độ trì cho gia tiên tiền tổ nội ngoại ba bề bốn bên được tới hầu tại cửa phật thánh, thứ nhất là để thành tâm tu học đặng cầu sinh tịnh độ, thứ hai là tấu thay cầu đỡ cho con, cháu, chắt đạt sở nguyện.


– Cầu thứ hai là cho Cha mẹ, anh chị em, vợ chồng, các con của ta ở đời này kiếp này và đời trước kiếp trước được bình an, sức khỏe.


– Sau cùng là đến phần bản thân: Phần này mọi người thường mắc sai lầm ở chỗ cầu xin rất nhiều thứ mà không chịu nghĩ rằng mình có xứng đáng được nhận huệ phước như vậy không. Đối với mỗi người điều quý giá nhất là sức khỏe, nên điều cần cầu xin nhất là sức khỏe dồi dào, tính tấn tu học, gia sự bình an. Còn những ước nguyện khác nên để tùy duyên nhà Ngài sắp xếp.


Điều lưu ý sau cùng: Việc khấn cúng là mang tâm thành dâng lên nhà Ngài xem xét, khấn không có nghĩa là cầu gì được đấy, bề trên sẽ cân nhắc xem xét giữa công và tội, để quyết định ban cho ước nguyện được chấp nhận một phần hay toàn bộ.


Thanh Lam



Khám phá & Chia sẻ Những lưu ý khấn khi khấn, cúng lễ tại Đền và Điện tại Ngôi nhà Tâm Linh