Thứ Hai, 27 tháng 11, 2017

Một số nguyên tắc khi đi chùa lễ phật

Từ xưa đến nay, trong các ngày rằm, mồng một, ngày lễ tết… cùng những ngày có việc quan trọng chúng ta thường đến chùa lễ Phật với tấm lòng thành kính nhờ nghiệp lực vô biên của Phật, chư vị Bồ Tát, các bậc thánh hiền mà được thiện duyên, giác ngộ, mong tâm được thanh tịnh, đạo được mở mang, tai qua nạn khỏi, cuộc sống ấm no hạnh phúc.. ước vọng chính đáng ấy được thể hiện khi chúng ta đến trước điện đài của Phật.


Tuy nhiên, không phải ai đến chùa cũng có những mục đích giống nhau và không phải ai cũng hiểu được ý nghĩa của việc đi chùa nên bên cạnh những người đến chùa với đúng nghĩa lễ Phật, học Chánh pháp, hành thiện tích đức thì cũng không ít người đến chốn cửa thiền làm những điều trái giáo lý nhà Phật, ngược với thuần phong mỹ tục. Sự thiếu hiểu biết về đạo Phật đang làm méo mó, biến dạng các lễ hội gắn với chùa chiền.


Người đi lễ cần trang bị cho mình một số nguyên tắc khi hiện diện nơi cửa Phật:


Nguyên tắc khi ra vào chùa


Bạn cũng không được dẫm lên bậu cửa nhà chùa. Khi bước vào nhà chính của đền, chùa, bạn không được đi vào từ cửa giữa. Khi đi qua cổng Tam quan vào chùa nên đi vào cửa Giả quan (bên phải) và đi ra bằng cửa Không quan (bên trái). Cửa Trung quan (chính giữa) chỉ dành cho Thiên tử, bậc cao tăng, bậc khoa bảng đi vào chùa và đi ra cũng theo cửa này.


Trang phục khi đi Lễ Chùa


Khi đi lễ chùa bạn nên chọn trang phục nhã nhặn, sạch sẽ, kín đáo, lịch sự, không mặc váy ngắn, quần cộc, áo xuyên thấu, khêu gợi…Bởi theo ngôn ngữ Phật giáo, ăn mặc gợi cảm quá mức vừa phạm giới uế tạp Phật đường, vừa phạm giới bất kính, dù người đó có mất công thờ cúng cũng không có ích gì. Ngoài ra, bạn cũng nên mặc trang phục gọn gàng, tiện lợi, tránh rườm rà, gây vướng víu.




[caption id="attachment_318" align="aligncenter" width="500"]Tuyệt đối không được mặc váy ngắn đi lễ chùa Tuyệt đối không được mặc váy ngắn đi lễ chùa[/caption]

Đối với Phật tử thì phải mặc áo lễ khi đến điện thờ Phật trong chùa.


Ngoài ra, nhiều đền chùa có quy định phải tháo bỏ giày dép trước khi vào sắp lễ nên bạn hãy chọn những đôi giày đơn giản, dễ tháo, dễ đi.


Về đồ lễ khi đi chùa


Khi đến dâng hương ở các chùa nên sắm các lễ chay như: hương, hoa tươi, quả chín, oản, xôi, chè… Không đặt lễ mặn ở khu vực Phật điện tức là chính điện, tức là nơi thờ tự chính của ngôi chùa. Trên hương án của chính điện chỉ được dâng đặt lễ chay, tịnh.


Việc sắm sửa lễ mặn như cỗ tam sinh (trâu, dê, lợn), thịt gà, giò, chả… chỉ có thể được chấp nhận nếu như trong khu vực chùa có thờ tự các vị Đức Ông, Thánh, Mẫu và chỉ dâng đặt tại ban thờ hay điện thờ mà thôi.


Không nên sắm sửa vàng mã, tiền âm phủ để dâng cúng Phật tại chùa. Nếu có sửa lễ này thì đặt ở bàn thờ thần linh, Thánh Mẫu hay ở bàn thờ Đức Ông.


Tiền thật cũng không nên đặt lên hương án của chính điện mà nên bỏ vào hòm công đức. Tuyệt đối không nên đi “rải” tiền trên tất cả ban thờ, đặt vào tay tượng.




[caption id="attachment_319" align="aligncenter" width="500"]Không nên đi “rải” tiền trên tất cả ban thờ, đặt vào tay tượng Không nên đi “rải” tiền trên tất cả ban thờ, đặt vào tay tượng[/caption]

Rượu, bia, thuốc lá không đặt được trên ban thờ Phật nhưng có thể đặt trên ban thờ Thánh.


Hoa tươi lễ Phật là hoa sen, hoa huệ, hoa mẫu đơn, hoa ngâu… không dùng các loại hoa tạp, hoa dại.


Tại chùa, cứ đến rằm tháng Bảy thì mọi người sắm sửa lễ vật đến cầu siêu cho ông bà, cha mẹ hay những người đã khuất, thậm chí cho cả cô hồn. Vào tiết này, sắm thêm lễ vật đặc trưng: đồ hàng mã chế tác theo hình vật cúng chúng sinh: cháo lá đa, ngôi, bánh đa, khoai… Tất cả dâng đặt ở ban thờ Đức Thánh chứ không đặt ở bàn thờ khác hay ban chính điện.


Riêng với các trường hợp “bán khoán” hay làm lễ “cầu siêu” thì cần phải sắm sửa lễ vật theo chỉ dẫn cụ thể của vị tăng trụ trì tại chùa.


Xưng hô trong chùa


Với nhà sư thì xưng là A di đà Phật, bạch thầy,… và xưng mình là con. Xưng hô như vậy tức là nhìn thấy tăng mà tưởng nhớ thầy Thích Ca Mâu Ni, mình xưng hô như vậy là đang xưng hô với Đức Thích Ca. Nếu nhà sư đó là thầy hướng dẫn mình tu tập thì xưng hô là thầy thì ngoài ý nghĩa trên còn mang nghĩa là thầy dạy học đạo.


Khi thưa gửi gì với nhà sư thì đều phải chắp tay hình búp sen.


Hành lễ khi đi chùa


Bước 1 – Đặt lễ vật: thắp hương và làm lễ ở ban thờ Đức Ông trước tiên.


Bước 2 – Sau khi đặt lễ ở ban Đức Ông xong, đặt lễ lên hương án của chính điện, thắp đèn nhang rồi làm lễ chư Phật, Bồ Tát.


Bước 3 – Sau khi đặt lễ chính điện xong thì đi thắp hương ở tất cả các ban thờ khác của nhà bái đường. Khi thắp hương lên đều có 3 lễ hay 5 lễ. Nếu chùa nào có điện thờ Mẫu, Tứ phủ thì đến đó đặt lễ, dâng hương cầu theo ý nguyện.


Bước 4 – Cuối cùng thì lễ ở nhà thờ Tổ (nhà Hậu).


Bước 5 – Cuối buổi lễ, sau khi đã lễ tạ để hạ lễ thì nên đến nhà trai giới hay phòng tiếp khách để thăm hỏi các vị sư, tăng trụ trì và có thể tùy tâm công đức.


Theo quan niệm của nhà Phật, Phật chỉ phù hộ an bình, che chở chứ không thể phù hộ đường công, danh, tài, lộc. Vì vậy, khi chúng ta làm lễ cầu tới cửa Phật nên xin được Phật che chở, bảo vệ. Nếu muốn cầu xin may mắn trong sự nghiệp, tình cảm…thì bạn nên vào đình, đền.


Khi hành lễ thì không nên quỳ phía sau những người đang đứng thắp hương. Tùy vào từng môn phái, có thể đứng hoặc quỳ khi làm lễ nhưng cần phải lên trước. Khi đứng khấn vái, không nên đứng thẳng ban thờ mà nên đứng chếch sang một bên. Và không nên bước qua mặt những người đang quỳ lạy.


Những việc không nên làm khi đi lễ chùa


1. Không chạy qua chạy lại, nói chuyện, bình phẩm, ngồi hoặc nằm trong Phật đường. Không tùy tiện hắt hơi, sổ mũi, khạc nhổ,… quanh khu vực Phật điện, tam bảo.


2. Không được tùy ý làm ồn hoặc nói những lời bất kính đối với Phật, Thánh, cũng không được có thái độ thiếu cung kính như tùy tiện dùng tay chỉ trỏ vào tượng Phật


3. Vào Phật Đường, tam bảo không nên đi giày dép, nhai trầu, hút thuốc. Tam bảo là nơi tôn nghiêm, có giới hương, định hương, chân hương, đòi hỏi phải trì giới để di dưỡng thanh tịnh, tuyệt đối không gây ồn ào, hỗn tạp.


4. Không nên mang theo mũ áo, khăn, túi xách, gậy gộc, bao tay… vào tam bảo bái Phật. Lỡ đặt những đồ đạc như vậy trên bàn, trên chiếu hoặc trong góc tam bảo để bái Phật thì mọi công quả tu dưỡng bấy lâu đều tiêu tán. Đi lễ chùa, tốt nhất không mang theo những đồ tùy thân khi vào tam bảo.


5. Trước tượng Phật nên cung kính nghiêm trang, không nhìn ngang ngó dọc, khệnh khạng trước tam bảo. Nếu muốn chiêm ngưỡng tượng Phật, nên đứng từ ngoài để quan sát.


6. Không nên chụp ảnh, quay phim tùy tiện trong chùa.


7. Tuyệt đối không được tự ý lấy sử dụng hoặc mang bất kỳ đồ đạc gì của nhà chùa về làm của riêng. Và cũng không nên mang các đồ ở đình chùa về đặt lên ban thờ nhà mình. Đồ đã cúng rồi không thể cúng lại; hơn nữa nhiều đồ có chứa trường khí âm, ảnh hưởng xấu đến ban thờ.


Phần lớn người dân Việt Nam đi lễ chùa theo truyền thống gia đình. Từ đời này qua đời khác với những nhà theo đạo Phật từ lâu thì việc đi lễ chùa đã trở thành một hoạt động thường ngày. Họ đi đến chùa để cầu xin từ chuyện cầu bình an, sức khỏe đến việc mong “trời Phật phù hộ” cho kết quả học tập của con cái, hay chuyện làm ăn, buôn bán sẽ thuận lợi và ngày càng tốt hơn. Thông thường, mọi người sẽ đi chùa vào các ngày Rằm và mồng Một hàng tháng hoặc khi có các sự kiện Phật giáo.



Khám phá & Chia sẻ Một số nguyên tắc khi đi chùa lễ phật tại Ngôi nhà Tâm Linh

Một số nguyên tắc khi đi chùa lễ phật

Từ xưa đến nay, trong các ngày rằm, mồng một, ngày lễ tết… cùng những ngày có việc quan trọng chúng ta thường đến chùa lễ Phật với tấm lòng thành kính nhờ nghiệp lực vô biên của Phật, chư vị Bồ Tát, các bậc thánh hiền mà được thiện duyên, giác ngộ, mong tâm được thanh tịnh, đạo được mở mang, tai qua nạn khỏi, cuộc sống ấm no hạnh phúc.. ước vọng chính đáng ấy được thể hiện khi chúng ta đến trước điện đài của Phật.


Tuy nhiên, không phải ai đến chùa cũng có những mục đích giống nhau và không phải ai cũng hiểu được ý nghĩa của việc đi chùa nên bên cạnh những người đến chùa với đúng nghĩa lễ Phật, học Chánh pháp, hành thiện tích đức thì cũng không ít người đến chốn cửa thiền làm những điều trái giáo lý nhà Phật, ngược với thuần phong mỹ tục. Sự thiếu hiểu biết về đạo Phật đang làm méo mó, biến dạng các lễ hội gắn với chùa chiền.


Người đi lễ cần trang bị cho mình một số nguyên tắc khi hiện diện nơi cửa Phật:


Nguyên tắc khi ra vào chùa


Bạn cũng không được dẫm lên bậu cửa nhà chùa. Khi bước vào nhà chính của đền, chùa, bạn không được đi vào từ cửa giữa. Khi đi qua cổng Tam quan vào chùa nên đi vào cửa Giả quan (bên phải) và đi ra bằng cửa Không quan (bên trái). Cửa Trung quan (chính giữa) chỉ dành cho Thiên tử, bậc cao tăng, bậc khoa bảng đi vào chùa và đi ra cũng theo cửa này.


Trang phục khi đi Lễ Chùa


Khi đi lễ chùa bạn nên chọn trang phục nhã nhặn, sạch sẽ, kín đáo, lịch sự, không mặc váy ngắn, quần cộc, áo xuyên thấu, khêu gợi…Bởi theo ngôn ngữ Phật giáo, ăn mặc gợi cảm quá mức vừa phạm giới uế tạp Phật đường, vừa phạm giới bất kính, dù người đó có mất công thờ cúng cũng không có ích gì. Ngoài ra, bạn cũng nên mặc trang phục gọn gàng, tiện lợi, tránh rườm rà, gây vướng víu.




[caption id="attachment_318" align="aligncenter" width="500"]Tuyệt đối không được mặc váy ngắn đi lễ chùa Tuyệt đối không được mặc váy ngắn đi lễ chùa[/caption]

Đối với Phật tử thì phải mặc áo lễ khi đến điện thờ Phật trong chùa.


Ngoài ra, nhiều đền chùa có quy định phải tháo bỏ giày dép trước khi vào sắp lễ nên bạn hãy chọn những đôi giày đơn giản, dễ tháo, dễ đi.


Về đồ lễ khi đi chùa


Khi đến dâng hương ở các chùa nên sắm các lễ chay như: hương, hoa tươi, quả chín, oản, xôi, chè… Không đặt lễ mặn ở khu vực Phật điện tức là chính điện, tức là nơi thờ tự chính của ngôi chùa. Trên hương án của chính điện chỉ được dâng đặt lễ chay, tịnh.


Việc sắm sửa lễ mặn như cỗ tam sinh (trâu, dê, lợn), thịt gà, giò, chả… chỉ có thể được chấp nhận nếu như trong khu vực chùa có thờ tự các vị Đức Ông, Thánh, Mẫu và chỉ dâng đặt tại ban thờ hay điện thờ mà thôi.


Không nên sắm sửa vàng mã, tiền âm phủ để dâng cúng Phật tại chùa. Nếu có sửa lễ này thì đặt ở bàn thờ thần linh, Thánh Mẫu hay ở bàn thờ Đức Ông.


Tiền thật cũng không nên đặt lên hương án của chính điện mà nên bỏ vào hòm công đức. Tuyệt đối không nên đi “rải” tiền trên tất cả ban thờ, đặt vào tay tượng.




[caption id="attachment_319" align="aligncenter" width="500"]Không nên đi “rải” tiền trên tất cả ban thờ, đặt vào tay tượng Không nên đi “rải” tiền trên tất cả ban thờ, đặt vào tay tượng[/caption]

Rượu, bia, thuốc lá không đặt được trên ban thờ Phật nhưng có thể đặt trên ban thờ Thánh.


Hoa tươi lễ Phật là hoa sen, hoa huệ, hoa mẫu đơn, hoa ngâu… không dùng các loại hoa tạp, hoa dại.


Tại chùa, cứ đến rằm tháng Bảy thì mọi người sắm sửa lễ vật đến cầu siêu cho ông bà, cha mẹ hay những người đã khuất, thậm chí cho cả cô hồn. Vào tiết này, sắm thêm lễ vật đặc trưng: đồ hàng mã chế tác theo hình vật cúng chúng sinh: cháo lá đa, ngôi, bánh đa, khoai… Tất cả dâng đặt ở ban thờ Đức Thánh chứ không đặt ở bàn thờ khác hay ban chính điện.


Riêng với các trường hợp “bán khoán” hay làm lễ “cầu siêu” thì cần phải sắm sửa lễ vật theo chỉ dẫn cụ thể của vị tăng trụ trì tại chùa.


Xưng hô trong chùa


Với nhà sư thì xưng là A di đà Phật, bạch thầy,… và xưng mình là con. Xưng hô như vậy tức là nhìn thấy tăng mà tưởng nhớ thầy Thích Ca Mâu Ni, mình xưng hô như vậy là đang xưng hô với Đức Thích Ca. Nếu nhà sư đó là thầy hướng dẫn mình tu tập thì xưng hô là thầy thì ngoài ý nghĩa trên còn mang nghĩa là thầy dạy học đạo.


Khi thưa gửi gì với nhà sư thì đều phải chắp tay hình búp sen.


Hành lễ khi đi chùa


Bước 1 – Đặt lễ vật: thắp hương và làm lễ ở ban thờ Đức Ông trước tiên.


Bước 2 – Sau khi đặt lễ ở ban Đức Ông xong, đặt lễ lên hương án của chính điện, thắp đèn nhang rồi làm lễ chư Phật, Bồ Tát.


Bước 3 – Sau khi đặt lễ chính điện xong thì đi thắp hương ở tất cả các ban thờ khác của nhà bái đường. Khi thắp hương lên đều có 3 lễ hay 5 lễ. Nếu chùa nào có điện thờ Mẫu, Tứ phủ thì đến đó đặt lễ, dâng hương cầu theo ý nguyện.


Bước 4 – Cuối cùng thì lễ ở nhà thờ Tổ (nhà Hậu).


Bước 5 – Cuối buổi lễ, sau khi đã lễ tạ để hạ lễ thì nên đến nhà trai giới hay phòng tiếp khách để thăm hỏi các vị sư, tăng trụ trì và có thể tùy tâm công đức.


Theo quan niệm của nhà Phật, Phật chỉ phù hộ an bình, che chở chứ không thể phù hộ đường công, danh, tài, lộc. Vì vậy, khi chúng ta làm lễ cầu tới cửa Phật nên xin được Phật che chở, bảo vệ. Nếu muốn cầu xin may mắn trong sự nghiệp, tình cảm…thì bạn nên vào đình, đền.


Khi hành lễ thì không nên quỳ phía sau những người đang đứng thắp hương. Tùy vào từng môn phái, có thể đứng hoặc quỳ khi làm lễ nhưng cần phải lên trước. Khi đứng khấn vái, không nên đứng thẳng ban thờ mà nên đứng chếch sang một bên. Và không nên bước qua mặt những người đang quỳ lạy.


Những việc không nên làm khi đi lễ chùa


1. Không chạy qua chạy lại, nói chuyện, bình phẩm, ngồi hoặc nằm trong Phật đường. Không tùy tiện hắt hơi, sổ mũi, khạc nhổ,… quanh khu vực Phật điện, tam bảo.


2. Không được tùy ý làm ồn hoặc nói những lời bất kính đối với Phật, Thánh, cũng không được có thái độ thiếu cung kính như tùy tiện dùng tay chỉ trỏ vào tượng Phật


3. Vào Phật Đường, tam bảo không nên đi giày dép, nhai trầu, hút thuốc. Tam bảo là nơi tôn nghiêm, có giới hương, định hương, chân hương, đòi hỏi phải trì giới để di dưỡng thanh tịnh, tuyệt đối không gây ồn ào, hỗn tạp.


4. Không nên mang theo mũ áo, khăn, túi xách, gậy gộc, bao tay… vào tam bảo bái Phật. Lỡ đặt những đồ đạc như vậy trên bàn, trên chiếu hoặc trong góc tam bảo để bái Phật thì mọi công quả tu dưỡng bấy lâu đều tiêu tán. Đi lễ chùa, tốt nhất không mang theo những đồ tùy thân khi vào tam bảo.


5. Trước tượng Phật nên cung kính nghiêm trang, không nhìn ngang ngó dọc, khệnh khạng trước tam bảo. Nếu muốn chiêm ngưỡng tượng Phật, nên đứng từ ngoài để quan sát.


6. Không nên chụp ảnh, quay phim tùy tiện trong chùa.


7. Tuyệt đối không được tự ý lấy sử dụng hoặc mang bất kỳ đồ đạc gì của nhà chùa về làm của riêng. Và cũng không nên mang các đồ ở đình chùa về đặt lên ban thờ nhà mình. Đồ đã cúng rồi không thể cúng lại; hơn nữa nhiều đồ có chứa trường khí âm, ảnh hưởng xấu đến ban thờ.


Phần lớn người dân Việt Nam đi lễ chùa theo truyền thống gia đình. Từ đời này qua đời khác với những nhà theo đạo Phật từ lâu thì việc đi lễ chùa đã trở thành một hoạt động thường ngày. Họ đi đến chùa để cầu xin từ chuyện cầu bình an, sức khỏe đến việc mong “trời Phật phù hộ” cho kết quả học tập của con cái, hay chuyện làm ăn, buôn bán sẽ thuận lợi và ngày càng tốt hơn. Thông thường, mọi người sẽ đi chùa vào các ngày Rằm và mồng Một hàng tháng hoặc khi có các sự kiện Phật giáo.



Khám phá & Chia sẻ Một số nguyên tắc khi đi chùa lễ phật tại Ngôi nhà Tâm Linh

Chủ Nhật, 26 tháng 11, 2017

Phong Thủy và những lợi ích của Phong Thủy

Phong thủy là một môn khoa học của người Trung Hoa cổ đại, là học thuyết nghiên cứu chuyên sâu về sự ảnh hưởng của địa lý, gió, nước, khí tới đời sống phúc họa của con người.


Phong có nghĩa là “gió“, là hiện tượng chuyển động của không khí. Thủy có nghĩa là “nước“, là dòng nước, sức nước, mạch nước, tượng trưng cho địa thế.


Phong thủy là sự tổng hòa các yếu tố xung quanh con người sinh sống như địa hình, địa thế, mồ mả, hướng gió, dòng nước, quan hệ giữa con người với con người trong cùng thôn xóm, làng xã.


Phong thủy liên quan đến cát hung, họa phúc, thọ yểu, sự hưng vượng hay suy vong trong làm ăn buôn bán, sự hanh thông hay ách tắc trong công việc. ‘Cát’ ắt là phong thủy hợp, ‘hung’ ắt là phong thủy không hợp.


Khí gặp gió (phong) ắt tán, gặp nước (thủy) ngăn thì dừng, cổ nhân xưa dạy rằng phải làm cho khí tụ chứ không tán, nước chảy có chỗ dừng, do vậy mà có phong thủy.


Phong thủy còn là phương pháp tìm kiếm, xác định địa thế đẹp để làm nơi an cư, trú ngụ, mai táng, từ đó mang lại cát khí, phú quí hiển vinh, phúc thọ song toàn gọi là thuật phong thủy. Thuật phong thủy cũng dựa vào dịch lí, thuyết âm dương, ngũ hành.


Phong thủy đã phát triển thành một truyền thống tinh vi và hoàn hảo vào thời nhà Đường (618-907 SCN). Về cơ bản, phong thủy cổ điển là một hệ thống dựa trên sự quan sát rất kỹ các thế lực, sức mạnh của thiên nhiên, gồm có trời (thời gian) và đất (không gian bên trong và bên ngoài) và “khí” của các yếu tố đó tương tác với nhau như thế nào.


Nhiệm vụ cùa phong thủy là làm cân bằng các yếu tố này. Khi đạt được sự cân bằng thì có thể có được sức khỏe, tài lộc và các mối quan hệ tốt hơn; mang lại cho bạn sự thúc đẩy và động lực để đi tới thành công! nói một cách khác “Phong thủy là một môn nghệ thuật và khoa học phân tích các sức mạnh thiên nhiên, hướng những mặt tích cực cùa thiên nhiên vào bạn. Một môi trường cân bằng đem lại sức khòe, sự thịnh vượng và các mối quan hệ có lợi”


Những lợi ích mà phong thủy đem lại:


1. Có việc làm, tăng lương hay thăng chửc


2. Cài thiện sức khỏe


3. Lập gia đình


4. Có thai hoặc ngừa sẩy thai


5. Ngăn ngừa ly thân hay ly dị


6. Tăng động cơ thúc đẩy


7. Tạo ra các mối quan hệ gia đình/công việc hòa hợp hơn


8. Phát triển thói quen học tập hiệu quà hơn


9. Tăng khá năng sáng tạo


10. Cảm thấy tự chủ hơn


11. Cảm thấy thoải mái hơn khi ờ trong nhà/văn phòng


12. Xóa tan buồn phiền


13. Khơi dậy húng thú giao tiếp xã hội


14. Thúc đẩy kinh doanh


15. Ngăn ngừa kiện tụng hoặc những thế lực xấu


16. Ngăn ngừa tai nạn


17. Tìm được một căn hộ, ngôi nhà, hay công việc


18. Tránh sự nghiện ngập


19. Ngủ ngon hơn


20. Được kính trọng và có danh tiếng



Khám phá & Chia sẻ Phong Thủy và những lợi ích của Phong Thủy tại Ngôi nhà Tâm Linh

Thứ Bảy, 25 tháng 11, 2017

Chùa Đồng - Yên Tử, Quảng Ninh

Chùa Đồng là ngôi chùa được xếp vào hàng độc đáo nhất trên thế giới, được ví như một “kỳ quan mới” tại khu danh thắng Yên Tử – hiện đang giữ rất nhiều kỷ lục mà không phải ai cũng biết.


Theo dân gian, chùa Đồng – Yên Tử là nơi con người có thể cầu viện được “sinh lực của vũ trụ” cho mọi mặt của cuộc đời. Dòng sinh lực vũ trụ này như mọi nguồn hạnh phúc chảy xuống mặt đất làm nảy nở sự sống. Dòng tôi chảy của sự thiêng liêng đó chỉ xảy ra ở những mảnh đất hội được những điều kiện nhất định. Chùa Đồng, nơi mà tín đồ, phật tử đặt niềm tin vào sự linh ứng mỗi lần đến thăm viếng để được nhập vào nguồn sinh khí vô biên đó.


Chùa Đồng có tên gọi ban đầu là Thiên Trúc Tự, sở dĩ được gọi là chùa Đồng vì toàn bộ Chùa được làm bằng chất liệu đồng (theo lời sư trụ trì chùa Thích Thanh Quyết). Chùa tọa lạc ở đỉnh cao nhất dãy Yên Tử (1.068m). Chùa Đồng (Yên Tử) đã được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam ghi nhận là ngôi chùa đồng lớn nhất và nằm ở độ cao nhất cả nước.


Phía sau chùa là vực sâu với vách núi đá dựng đúng thuộc địa phận tỉnh Bắc Giang.



Chùa Đồng mới do các nghệ nhân đúc đồng ở Ý Yên, Nam Định thực hiện theo mẫu chùa Dâu Keo (Thuận Thành, Bắc Ninh), nặng 70 tấn, dài 4,6m, rộng 3,6m và chiều cao từ cột nền tới mái là 3,35m. Các hoa văn, họa tiết trên đầu đao, bệ mái mang đậm phong cách đời Trần. Toàn bộ công trình gồm chùa, tượng Phật, chuông nặng hơn 70 tấn, được đúc bằng đồng nguyên chất nhập từ Australia, với khoảng hơn 4.000 cấu kiện, trong đó cấu kiện nặng nhất có trọng lượng 1,4 tấn, được lắp đặt trực tiếp trên đỉnh núi.


Khi thi công chùa Đồng mới, hai ngôi chùa cũ trên đã được chuyển về bảo quản tại Ban Quản lý di tích Yên Tử, và sau này được chuyển về Nhà trưng bày.


Địa thế chùa được dựng mang hình dáng một đóa sen khổng lồ, trong đó mỗi phiến đá là một cánh sen nở, chùa Đồng tọa lạc giữa đài sen. Địa thế nghiêng sang hai bên, phía đông triền đá dốc nghiêng, phía tây dốc đứng thành vực thẳm, lối đi chỉ vừa một bàn chân chênh vênh. Chùa quay về hướng Tây Nam, có bình đồ kiến trúc hình chữ “nhất”, một gian hai chái, cũng mang dáng như một bông sen nở.


Hai bên chùa có giá treo chuông, khánh. Sau chùa là nhà tăng cho sư an trú lo Phật sự của chùa.


Do vị trí cheo leo, đỉnh núi quanh năm mây mờ che phủ nên chùa được thiết kế đặc biệt với những phương pháp tối ưu nhất để chống chịu với thời tiết khắc nghiệt.


Lên đỉnh Yên Sơn, đi trong mây không phân biệt đâu là trời, đâu là đất, đâu là người ở nơi hòa đồng giữa trời đất và người (thiên, địa, nhân). Từ đỉnh Yên Sơn nhìn về 4 hướng là cả vùng Đông Bắc như dải lụa xanh thẳm, cảnh đẹp lạ thường.


Lịch sử Chùa Đồng


Chùa Đồng – Yên Tử từng là nơi tu hành của Đức Vua – Phật Hoàng Trần Nhân Tông, con trưởng của vua Trần Thánh Tông (1258-1308). Nguyên khởi, chùa Đồng do một bà phi của chúa Trịnh dựng vào thời hậu Lê (thế kỷ 17). Chùa được đúc bằng đồng, ban đầu chỉ là một cái khám nhỏ, một người chui không lọt.


Đến năm Canh Thân 1740, đời vua Lê Cảnh Hưng, bão làm bật mái chùa, sau bị kẻ gian dỡ phần còn lại chỉ để lại dấu tích các hố cột chôn trên mỏm đá.


Vào mùa Đông 1930, bà Bùi Thị Mỹ từ chùa Long Hoa tái tạo chùa Đồng bằng bê tông cốt đồng trên một hòn đá vuông cao quá đầu người ở vị trí chùa Đồng cũ.


Đến năm 1993, ông Nguyễn Sơn Nam, một Việt kiều ở Mỹ, cùng các phật tử ở hải ngoại phát tâm đúc lại chùa mới kiến trúc hình chữ Đinh theo dáng một bông sen nở, ngự trên sập đồng chân quỳ dạ cá trổ hình hoa sen cách điệu, đặt ngay bên cạnh ngôi chùa Đồng bằng bê tông xây dựng đầu thế kỷ XX.


Theo tinh thần, hai chùa quy vào một khối, không để Phật tử và nhân dân phải thờ hai chùa Đồng cùng một lúc, thực hiện Quyết định số 3325/QĐ-UB ngày 29/8/2005 của UBND tỉnh Quảng Ninh Phê duyệt dự án đầu tư tôn tạo tại chùa Đồng tại khu di tích Yên Tử, TP Uông Bí. Ngày 03 tháng 6 năm 2006 dưới sự chủ trì của Tiến sĩ Phật học Đại Đức Thích Thanh Quyết (Thượng Tọa Thích Thanh Quyết) và Ban Quản lý Dự án chùa Đồng, bằng công đức thập phương trong và ngoài nước đã khởi lễ đúc chùa Đồng theo mẫu thiết kế của kiến trúc sư Trần Quốc Tuấn – Viện Bảo Tồn Di Tích. Chùa được khánh thành vào ngày 30 tháng 01 năm 2007, tọa lạc trên đỉnh non thiêng ở vị trí giữa hai ngôi chùa được xây dựng trước đây.


Hệ thống thờ cúng tại Chùa Đồng


Hệ thống tượng Phật trong chùa gồm 1 pho tượng Phật Thích Ca và 3 pho tượng Tam Tổ Trúc Lâm. Tượng có kích thước cao trung bình từ 0,45-0,87m tọa trên đài sen, trong đó 3 pho tượng Tổ được tạo tác lớn hơn. Tượng Thích Ca trong trang phục áo cà sa, tọa thiền với tư thế kiết già (thế liên hoa tọa). Tượng Đệ nhất Tổ (Trần Nhân Tông) mặc áo cà sa, tay úp lên hai đùi, tư thế ngồi “kiết già kiểu cát tường” hay còn gọi là “cát tường tọa” mắt nhìn xuống soi rọi nội tâm. Tượng Đệ nhị Tổ (Pháp Loa) và Đệ tam Tổ (Huyền Quang) mặc áo cà sa, tư thế ngồi kiết già không lộ bàn chân, tay kết “định ấn”. Toàn bộ 3 pho tượng Tổ ngự trên đài sen đặt trên bệ, trang trí hoa văn hình sen, cúc, thị, lá lật, hoa văn sóng nước.


Từ lâu, chùa Đồng không chỉ mang ý nghĩa về kiến trúc mà xét trên phương diện tín ngưỡng lâu đời, nó có ý nghĩa tâm linh đặc biệt. Chùa Đồng Yên Tử hoàn toàn khác biệt bất cứ công trình đúc kim loại nào trên thế giới, kể cả kiến trúc và điêu khắc mỹ thuật. Đó là vẻ đẹp vừa khỏe khoắn, vừa mềm mại, bay bổng.


Hàng năm, lễ hội ở chùa Đồng và Yên Tử nói chung diễn ra vào ngày mùng 10 tháng Giêng (Âm lịch) và 3 ngày đầu năm. Ngoài ra, vào những ngày sóc, vọng hay lễ Vu Lan, Phật đản, nhiều Phật tử cả nước cũng về đây hành hương lên chốn Trúc Lâm Yên Tử linh thiêng để tỏ lòng thành kính với Đức Phật từ bi.



Khám phá & Chia sẻ Chùa Đồng - Yên Tử, Quảng Ninh tại Ngôi nhà Tâm Linh

Thứ Năm, 23 tháng 11, 2017

Cách chọn tuổi xông nhà đầu năm

Chọn tuổi xông nhà, hay xem tuổi tìm người xông đất tốt, hợp với gia chủ là điều nên làm. Bởi vì cha ông chúng ta quan niệm rằng đầu năm mà mọi việc đều thuận lợi suôn sẻ thì cả năm đó sẽ được may mắn, bình an và thành công trong nhiều công chuyện. 


Theo kinh nghiệm dân gian, khi Chọn tuổi xông nhà nên chọn người có Thiên can, Địa chi, Ngũ hành tương sinh với Gia chủ. Đồng thời Thiên can, Địa chi, Ngũ hành của năm cũng cần tương sinh với người đó.


Người được chọn phải đáp ứng các tiêu chí: có đạo đức đường hoàng, vui vẻ, rộng rãi, hạnh phúc, thành đạt, đang ăn nên làm ra thì càng tốt và một yếu tố quan trọng là hợp với tuổi của chủ nhà.


Giang anh xin chia sẻ một số điều để sao Chọn tuổi xông nhà phù hợp với năm và gia chủ.


I. Chọn tuổi xông nhà nên chọn là nam hay nữ?


Nam hay Nữ đều được, nhưng quan trọng người đó cần có phúc dày, thành đạt trong cả công việc và gia đình.


Người đến xông đất thường chỉ đến thăm, chúc tết 5 - 10 phút, với ý nghĩa chúc cho mọi việc trong năm của chủ nhà được trôi chảy thông suốt. Người đi xông đất có niềm vui vì làm được việc phúc lành. Người được xông đất cũng sung sướng vì gia đạo may mắn, tốt lành cả năm.


II. Chọn tuổi xông nhà theo Địa chi


12 địa chi là: Tý - Sửu - Dần - Mão - Thìn - Tỵ - Ngọ - Mùi - Thân - Dậu - Tuất - Hợi.


1. Chủ nhà tuổi Tý hợp người tuổi Thân, Thìn (Tam hợp), Tuổi Sửu (Nhị hợp).


2. Chủ nhà tuổi Sửu hợp người tuổi Tỵ, Dậu, Tý.


3. Chủ nhà tuổi Dần hợp người tuổi Ngọ, Tuất, Hợi.


4. Chủ nhà tuổi Mão hợp người tuổi Mùi, Hợi, Tuất.


5. Chủ nhà tuổi Thìn hợp người tuổi Tý, Thân, Dậu.


6. Chủ nhà tuổi Tỵ hợp người tuổi Sửu, Dậu, Thân.


7. Chủ nhà tuổi Ngọ hợp người tuổi Dần, Tuất, Mùi.


8. Chủ nhà tuổi Mùi hợp người tuổi Mão, Hợi, Ngọ.


9. Chủ nhà tuổi Thân hợp người tuổi Tý, Thìn, Tỵ.


10. Chủ nhà tuổi Dậu hợp người tuổi Sửu, Tỵ, Thìn.


11. Chủ nhà tuổi Tuất hợp người tuổi Dần, Ngọ, Mão.


12. Chủ nhà tuổi Hợi hợp người tuổi Mão, Mùi, Dần.


Ví dụ: Tuổi Gíap Tý hợp với Nhâm Thân vì có địa chi TÝ hợp với địa chi THÂN


Lưu ý: Nếu chọn được cả Thiên can và Địa chi (tuổi) cùng hợp thì càng tốt. Nếu Thiên Can hợp, nhưng Tuổi xung ( Tý xung Ngọ, Mão xung Dậu, Thìn xung Tuất, Sửu xung Mùi xung, Dần xung Thân, Tỵ xung Hợi), thì cũng nên tránh.


III. Chọn tuổi xông nhà theo thiên can


10 thiên can là: Giáp - Ất - Bính – Đinh - Mậu - Kỷ - Canh - Tân - Nhâm – Quý.


1. Chủ nhà Can Giáp hợp với can Kỷ; Nhưng kị với can Canh – can Mậu.


2. Chủ nhà Can Ất hợp với Canh; Kị với can Tân – Kỷ.


3. Chủ nhà Can Bính hợp với Tân mà kỵ với Nhâm – Canh.


4. Chủ nhà Can Đinh hợp với Nhâm mà kỵ với Quý – Tân.


5. Chủ nhà Can Mậu hợp với Quý mà kỵ với Giáp – Nhâm.


6. Chủ nhà Can Kỷ hợp với Giáp mà kỵ với Ất – Quý.


7. Chủ nhà Can Canh hợp với Ất mà kỵ với Bính – Giáp.


8. Chủ nhà Can Tân hợp với Bính mà kỵ với Đinh – Ất.


9. Chủ nhà Can Nhâm hợp với Đinh mà kỵ với Mậu – Bính.


10. Chủ nhà Can Quý hợp với Mậu mà kỵ với Kỷ – Đinh.


Ví dụ: GIÁP NGỌ hợp với KỶ MÙI vì có Thiên can GIÁP hợp Thiên can KỶ.


IV. Chọn tuổi xông nhà theo ngũ hành (mệnh)


1. Chủ nhà mệnh Kim nên chọn người mệnh Thổ, Thuỷ, Kim.


2. Chủ nhà mệnh Mộc nên chọn người mệnh Thuỷ, Hoả, Mộc.


3. Chủ nhà mệnh Thuỷ nên chọn người mệnh Kim, Mộc, Thuỷ.


4. Chủ nhà mệnh Hoả nên chọn người mệnh Mộc, Thổ, Hoả.


5. Chủ nhà mệnh Thổ nên chọn người mệnh Hoả, Kim, Thổ.


Lưu ý: Nếu chọn được mệnh hợp, nhưng Tuổi xung như trên thì cũng nên tránh.


Ví dụ: Tuổi Giáp Tý có ngũ hành năm là Hải Trung Kim (hành Kim), nên chọn tuổi Bính Thìn có ngũ hành năm là Sa Trung Thổ (hành Thổ).


Tránh chọn tuổi Canh Ngọ, vì tuy có ngũ hành năm là Lộ Bàng Thổ (hành Thổ) nhưng Thiên can và Địa chi đều xung.


Ngoài 3 tiêu chí trên, nếu cẩn thận còn xét thêm tuổi của người xông nhà đó với cả năm  xem có xung - hợp hay không.




Khám phá & Chia sẻ Cách chọn tuổi xông nhà đầu năm tại Ngôi nhà Tâm Linh

Thứ Tư, 22 tháng 11, 2017

Đền Dâu - Ninh Bình

Đền Dâu chỉ cách đền quán Cháo hơn 1 km. Đền Dâu cũng nằm sát đường quốc lộ 1A. Đền Dâu cũng gắn với sự tích hóa thân của thánh mẫu vào người con gái bản địa để dạy nhân dân trồng dâu nuôi tằm.



Đền Dâu thuộc địa phận phường Nam Sơn, thành phố Tam Điệp tỉnh Ninh Bình, đền có tên chữ là Tang Dã Linh Từ (nghĩa là: Đền Thiêng nương Dâu) thờ Liễu Hạnh Công chúa – một trong tứ bất tử của điện thần Việt Nam đã hoá thân vào người con gái địa phương giúp dân và quân lính Tây Sơn trồng dâu nuôi tằm.


Đền Dâu toạ lạc trên một thế phong thuỷ đẹp, đền nằm trên một khu đất cao quay hướng đông nam, phía trước đền có núi Hồng Ngọc làm án, phía sau có núi Chong Đèn làm hậu chẩm, bên trái có núi Ngang(Hoành Sơn) làm Thanh Long, bên phải đền có núi Béo làm Bạch Hổ.


Cũng như ở đền Quán Cháo, Lễ hội đền Dâu hàng năm mở vào 15 tháng riêng, tương truyền đó là ngày hội đặt hom dâu và cũng là ngày mừng vua Quang Trung chiến thắng khải hoàn, kéo dài cho đến hết ngày 3-3 Âm lịch (Ngày kỵ của mẫu Liễu), ở địa phương còn lưu truyền câu ca dao:


"Dù ai đi đâu về đâu


Nguyên tiêu lễ hội đền Dâu thì về


Dù au bận rộn trăm bề


Nguyên Tiêu lễ hội thì về đền Dâu"


 Trước đây lễ hội có tục rước tượng và kéo chữ “Mẫu Nghi thiên hạ”, “Thiên hạ thái bình” và “Lý Nhân vi mỹ” nhưng hiện nay tục rước tượng và kéo chữ chưa khôi phục được, chỉ còn lễ và tế nữ quan còn duy trì. Cũng như nhiều phủ, điện Mẫu khác, nơi đây có những nghi thức thờ cúng cơ bản như: hầu bóng, tôn lô nhang và trình đồng để cầu mong đức Thánh Mẫu và các vị thần thánh ban phúc, lộc, thọ và an khang cho trăm họ.


Di tích đền Dâu là một trong những di tích có liên quan chặt chẽ tới Mẫu Liễu Hạnh như ở đền Sòng, Phố Cát (Thanh Hoá), Phủ đồi Ngang, đền Quán Cháo(Ninh Bình) liên quan tới con đường Thiên Lý cổ ra bắc vào Nam, gắn với không gian ảnh hưởng của Mẫu Liễu từ Phủ Tây Hồ (Hà Nội) qua Vân Cát (Nam Định), qua đèo Tam Điệp (Ninh Bình – Thanh Hoá) tới tận đèo Ngang (Hà Tĩnh – Quảng Bình).


Di tích nằm trong không gian của phòng tuyến Tam Điệp – Biện Sơn gắn với các địa danh như luỹ Ông Ninh, thung Đong Quân, đèo Tam Điệp, luỹ Quèn Thờ đây là một phòng tuyến có ý nghĩa lịch sử quan trọng của dân tộc trong chiến thắng 20 vạn quân Thanh năm 1789.



Khám phá & Chia sẻ Đền Dâu - Ninh Bình tại Ngôi nhà Tâm Linh

Thứ Ba, 21 tháng 11, 2017

Đền Cờn - ngôi đền linh thiêng xứ Nghệ

Đền Cờn là một ngôi đền nằm trên gò Diệc, hướng mặt ra sông Hoàng Mai, tại phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An, Việt Nam.  Đây Là ngôi đền nổi tiếng linh thiêng xứ Nghệ "Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch Mã". Những ngày đầu Xuân, nhiều du khách trong và ngoài tỉnh tìm về đi lễ đền Cờn.


Đền Cờn Nghệ An là tên gọi chung của Đền Cờn trong và Đền Cờn ngoài. Hai đền này đều thuộc phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, Nghệ An. Đền Cờn trong còn gọi là Đền Mẫu Cờn, đền Cờn ngoài còn gọi là Đền Ông Chín Cờn.


Năm 1993, Đền Cờn là di tích văn hóa cấp quốc gia.


Năm 2017, Lễ hội Đền Cờn được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.


Đền Cờn Thờ ai ?


Khi quân Tống thất bại trong trận chiến Tống - Nguyên, vua Tống Đế Bính cùng quan quân tự vẫn. Thái hậu Dương Nguyệt Quả, cùng 2 công chúa Triệu Nguyệt Khiêu, Triệu Nguyệt Hương và bà nhũ mẫu cũng nhảy xuống biển tự vẫn, thân xác trôi dạt đến cửa Cờn, được người dân nơi đây vớt lên chôn cất và thờ tại Đền.


Thương cảm tấm lòng nghĩa vì nước quên thân của các vị thánh nương nên nhân dần đã lập đền thờ 4 vị thánh nương và thờ luôn những người thân của họ là Vua Tống Kế Bính và 3 tướng thân tín của vua.


Đền được dựng lên để thờ tứ vị thánh nương là 3 mẹ con công chúa nước Nam Tống là: Từ Hy Thái hậu Dương Nguyệt Quả, 2 công chúa là Triệu Nguyệt Khiêu và Triệu Nguyệt Hương và bà nhũ mẫu. Đền cờn thờ cả các vị thần là vua Tống Đế Bính, các quan Trương Thế Kiệt, Lục Tú Phu…


Đền cờn thờ một khúc gỗ thiêng và vỏ hạt lúa.


Tìm về đền Cờn, bên cạnh yếu tố tâm linh, vùng biển Quỳnh Phương còn có nhiều hải sản biển tươi ngon để du khách thưởng thức hay mua về làm quà như cá thu, cá cơm khô, nước mắm...


Di tích Đền Cờn gồm có hai đền: Đền Cờn Trong và Đền Cờn Ngoài. 


Trước đây, nơi đây chỉ có 1 Đền Cờn  thờ chung Tứ Vị Thánh Nương và Vua Tống Đế Bình cùng 3 vị tướng của ngài. Do quan niệm "Nam nữ thụ thụ bất tương thân" nên đầu thế kỷ thứ 19 vua Gia Long đã chuyển cung thờ Vua Tống Đế Bính cùng ba tướng nhà Nam Tống là Lục Tú Phu, Lương Thế Kiệt, Văn Thiên Tường từ Đền Cờn ra núi Thằn Lằn tạo nên hai Đền Cờn. Đền Cờn cũ trở thành đền cơn trong, đền ngoài núi Thằn Lằn gọi là Đền Cờn Ngoài.


Đền Cờn Trong


Đền Cờn Trong nằm trên gò Diệc, hướng mặt ra dòng Mai Giang thơ mộng, thờ Tứ vị Thánh nương Nam Hải Đại càn quốc gia. Đền Cờn Trong được xây dựng vào thời Trần, phát triển quy mô lớn ở thời Lê, trùng tu nhiều ở thời Nguyễn, bởi vậy, di tích mang đậm phong cách văn hóa cuối Lê đầu Nguyễn. Trải qua thời gian, ngôi Đền hiện chỉ còn tòa Nghi môn, Chính điện, Trung điện, Hạ điện và tòa ca vũ.


Đền Cờn Trong được xây dựng vào thời Trần (1235), phát triển quy mô lớn ở thời Lê, trùng tu nhiều ở thời Nguyễn, bởi vậy, di tích mang đậm phong cách văn hóa cuối Lê đầu Nguyễn.


Năm Giáp Thân (1044) vua Lý Thái Tông thân chinh dẫn đại quân đi đánh Chiêm Thành cũng dừng thuyền ở cửa Cờn để tuyển thêm tráng sĩ, nên mới có Đặng Tế ra phò, đánh giặc có công được thờ ở đền Xuân Úc (Quỳnh Liên).


Thời gian Lê Lợi kéo quân Lam Sơn vào Nghệ An (1424) và Ninh quận công Trịnh Toàn (trong những năm Trịnh - Nguyễn phân tranh) khi đã làm Tiết chế kéo quân vào Nghệ An để chống chọi với chúa Hiền cũng đã vào đền Cờn cầu nguyện.


Năm Hồng Đức 11 (1470), vua Lê Thánh Tông lại huy động thủy quân tiến đánh Chiêm Thành, khi đoàn chiến thuyền dừng lại nghỉ ngơi ở cửa Cờn, vua vào đền mật đảo. Sau chiến thắng, đoàn thuyền của vua đi về qua cửa Cờn nhưng lại phải quay lại và vào cửa Cờn (ngay dưới chân đền) để tránh bão. Ngẫm sự kiện này, vua cho là điềm lạ, có lẽ thần đền đòi tri ân chăng, bèn hạ lệnh tăng thêm phẩm vật, cho khắc tượng và dựng thêm một tòa đền. Đêm đó nhà vua mộng thấy Tứ Vị Thánh Nương, bèn Gia phong sắc “Đại Càn Thánh Nương Quốc gia Nam Hải Tứ vị thượng đẳng thần”. Về sau chỗ thuyền quay lại được gọi là Hồi Chân hay Đồng Hồi, tức xã Quỳnh Lập ngày nay (việc này đã được chép lại trong Đại Nam nhất thống chí).


Sang thế kỷ 18, vua Quang Trung đã ban sắc phong với mỹ tự “Hàm hoằng quảng đại” (tức là công lao rộng khắp, to lớn) và “Hàm chương tiết liệt”(nghĩa là nêu gương tiết liệt cho muôn đời).


Đền Cờn Ngoài


Đền Cờn ngoài cách đền Cờn trong khoảng 1km, tọa lạc trên dãy núi Thằn lằn (còn gọi là núi Hùng Vương). Đền thờ các vị thần như: Tống Đế Bính, Trương Thế Kiệt, Lục Tú Phu... Các vị thần này trước phối thờ ở đền Cờn trong.


Theo lời truyền khẩu trong dân gian Phương Cần, sự ra đời của ngôi đền liên quan đến “giấc mộng của vua Hồng Đức”. Tương truyền, năm Hồng Đức thứ 11 (1470), Lê Thánh Tông đi đánh giặc Chiêm thắng trận trở về. Thuyền đến cửa Biện (Thanh Hóa), bỗng gió đông thổi mạnh, phải quay lại cửa Cờn. Nhà vua vào làm lễ tạ thần đền, thấy Đế Bính được thờ chung với các bà, cho rằng theo Nho giáo “nam nữ bất đồng cung”, sai dựng đền Ngoài để thờ Tống Đế Bính và các trung thần Trương Thế Kiệt và Lục Tú Phu.


Đền Ngoài nằm trên dải núi Thằn Lằn ngay tại nơi cao nhất của dải núi. Theo trí tưởng tượng của dân gian trong vùng, vị trí của đền là đầu của một con thằn lằn, phần thân của nó nằm vắt từ phía đông sang phía bắc làng, ngay sát mép biển. Đây là một giải núi thấp, dài gần 1km với độ cao trên 100m so với mực nước biển.


Đền Ngoài được xây dựng vào khoảng thế kỷ 14 (sau đền Trong), được tôn tạo và hoàn chỉnh dưới thời Tự Đức (1848-1883), cùng một lúc với việc tu bổ đền Trong. Đền Ngoài đã bị dân làng và chính quyền sở tại phá hủy vào năm 1979, tức là một năm sau cuộc đụng độ ở biên giới Việt Trung. Bấy giờ, người ta quan niệm: “Thờ thần Tàu đau lòng liệt sĩ”, mặc dù xét về phương diện lịch sử, vị thần được thờ trong đền không liên quan gì tới những mâu thuẫn chính trị thời đó. Cho đến những năm 80 của thế kỷ này, cũng vẫn là những người dân Phương Cần đã đứng ra hưng công tu sửa đền.


Theo lời kể của người dân Phương Cần, một số hiện vật ở đền Ngoài đã bị mất mát, một số khác được đưa vào đền Trong cất giữ. Những dấu tích còn lại của ngôi đền như chân cột nanh, các bậc tam cấp, mặt bằng nền móng, cho thấy quy mô kiến trúc cũ của ngôi đền vẫn còn lưu lại


Tục thờ Tứ Vị Thánh Nương

Tục thờ Tứ Vị Thánh Nương hiện rất phổ biến ở nhiều làng người Việt ven biển từ Bắc vào Nam , ngoài ra còn thấy ở các làng ven biển Trung Bộ . Tuy nhiên tục thờ này phổ biển nhất là miền biển Trung Bộ . Mà trung tâm là Đền Cờn ( Nghệ An ) . Theo Ninh Viết Giao , ngoài đền Cờn còn có hơn 30 làng khác nữa ở Quỳnh Lưu ( Nghệ An ) thờ Tứ Vị Thánh Nương . Riêng huyền Hoàng Hóa ( Thanh Hóa ) cung có 20 làng thờ Tứ Vị Thánh Nương dưới dạng thờ Tống Hậu , Thiên Hậu


Ở Quang Nam - Đà Nẵng tục thờ Tứ Vị Thánh Nương rất phổ biến , hầu như làng nào cũng có tuy nhiên , ít khi có miếu thờ riêng bà . Như trường hợp làng Mỹ Khê  gọi là Miếu Cả , còn phần lớn là phối thờ với các vị thần khác và được gọi với cái tên là  Bà Giàng Lạch ,  tức vị thần chủ sông biển

Khám phá & Chia sẻ Đền Cờn - ngôi đền linh thiêng xứ Nghệ tại Ngôi nhà Tâm Linh